Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang tháng 10 năm 2016

I. KINH TẾ:

1. Sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản:

- Trồng trọt: trong tháng, bà con nông dân tích cực chăm sóc cây trồng, vật nuôi sau những ngày mưa bão. Cây lương thực có hạt trong tháng không xuống, sản lượng thu hoạch được 358 tấn. Mười tháng gieo trồng được 219.542 ha, đạt 103,1% kế hoạch và giảm 4,1% so cùng kỳ; tổng sản lượng thu hoạch được 1.117.842 tấn, đạt 89,9% kế hoạch, giảm 5,2%. Đến cuối tháng 10, cây lúa đã kết thúc năm sản xuất, sơ bộ xuống giống 215.551 ha, đạt 103,3% kế hoạch, giảm 4,1% so cùng kỳ do chuyển đổi cây trồng; đã thu hoạch xong 180.317 ha; năng suất bình quân 61,3 tạ/ha, sản lượng 1.105.262 tấn, giảm 5,2% so cùng kỳ. Vụ Thu đông các huyện phía Đông xuống giống 32.190 ha, đạt 94,9% kế hoạch, trà lúa đang trong giai đoạn đẻ nhánh và phát triển tốt. Cây bắp trồng được 3.971 ha, giảm 5,9% so cùng kỳ, thu hoạch 3.500 ha, năng suất bình quân 35,8 tạ/ha, với sản lượng 12.530 tấn.

Cùng với việc gieo sạ cây lúa, 10 tháng trên địa bàn tỉnh, cây chất bột có củ trồng 1.202 ha, đạt 130,3% kế hoạch, giảm 1,9% so cùng kỳ, trong đó diện tích khoai mỡ là 588 ha. Cây rau đậu các loại gieo trồng 52.286 ha, đạt 102,3% kế hoạch, tăng 4,2%, thu hoạch 44.134 ha, năng suất bình quân 178,7 tạ/ha với sản lượng 788.803 tấn; trong đó rau các loại gieo trồng 52.120 ha, tăng 4,2% so cùng kỳ, thu hoạch 44.025 ha, năng suất bình quân 179,1 tạ/ha với sản lượng 788.488 tấn. Cây công nghiệp hàng năm trồng 636 ha, giảm 4,7% so cùng kỳ; trong đó diện tích lạc 338 ha, tăng 32,1%, mía 190 ha, giảm 21,7% so cùng kỳ.

- Chăn nuôi: Tổng đàn bò của tỉnh tính đến thời điểm 15/10 có 126 ngàn con, tăng 44,4% so cùng kỳ, tương ứng tăng 38.859 con. Tổng đàn lợn 743 ngàn con, tăng 23,3%, tương ứng tăng gần 141 ngàn con, chủ yếu tăng ở loại hình nuôi trang trại, do chuẩn bị cung ứng cho thị trường lượng thịt hơi trong dịp tết 2017. Tổng đàn gia cầm 10,6 triệu con, tăng 33,3%, tương ứng tăng 2,7 triệu con; trong đó đàn gà 8,1 triệu con. Nhiều địa phương đã triển khai thực hiện mô hình nuôi gà theo hướng an toàn sinh học vừa bảo vệ môi trường, vừa tiết kiệm chi phí.

- Thủy hải sản: tính đến cuối tháng 10 đã kết thúc diện tích thả nuôi thủy sản năm 2016, dự kiến tổng diện tích nuôi thủy sản các loại 15.348 ha, giảm 1,5% so cùng kỳ. Diện tích nước ngọt thả nuôi 6.269 ha, giảm 0,8% do nắng nóng kéo dài kết hợp với mực nước trên các sông ngòi, kênh rạch thấp và tình hình xâm nhập nặm sâu vào đất liền nên đã ảnh hưởng đến việc nuôi nước ngọt nhất là các huyện phía Đông. Bên cạnh đó thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới có quy ước chỉ tiêu về vệ sinh môi trường, các địa phương thực hiện đê bao và xây dựng mô hình nuôi theo xu hướng sản xuất hàng hóa nên việc nuôi theo phương thức truyền thống ngày càng bị thu hẹp. Nuôi thủy sản nước mặn, lợ 9.079 ha, giảm 1,8% so cùng kỳ. Sản lượng thủy sản thu hoạch trong tháng 20.717 tấn, giảm 1,7% so cùng kỳ. Ước đến cuối tháng 10 thu hoạch 215.338 tấn, tăng 2,8% so cùng kỳ; trong đó, sản lượng thu hoạch từ nuôi 130.510 tấn, tăng 2,6% do nuôi nghêu, nuôi lồng bè và nuôi cá thâm canh với qui mô lớn ổn định nên sản lượng thu hoạch đạt khá; sản lượng khai thác 84.828 tấn, so cùng kỳ tăng 3,2% do thời tiết thuận lợi và ngư trường khai thác ổn định nên sản lượng tăng.

2. Sản xuất công nghiệp:

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp trong tháng tăng 2,1% so với tháng 9 và tăng 15,3% so cùng kỳ. Tính chung 10 tháng chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,7% so với cùng kỳ, bao gồm: công nghiệp khai khoáng giảm 70,5% do các doanh nghiệp hoạt động khai thác cát tạm ngưng hoạt động; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,9%, trong đó sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,5%, sản xuất kim loại tăng 43%, sản xuất thiết bị điện tăng 134,3%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 15,8%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,7% so cùng kỳ.

Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ là: sản phẩm gạo xay xát tăng 20,9%, thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh dạng viên bằng gấp 35,6 lần... Bên cạnh đó có một số ngành có chỉ số tồn kho giảm là: thức ăn cho gia súc giảm 47,9%, sản xuất thức ăn cho thủy sản giảm 62,3%, sản phẩm bia đóng lon giảm 37,5%, cốm giảm 6,3%, sản xuất ống và ống dẫn bằng đồng giảm 69,8%...

3. Đầu tư - Xây dựng:

Trong tháng, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện được 212 tỷ đồng. Tính chung 10 tháng thực hiện 1.633 tỷ đồng, đạt 79,1% kế hoạch, tăng 11,9% so cùng kỳ. Nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh thực hiện 1.234 tỷ đồng, tăng 11,8% so cùng kỳ; trong đó vốn cân đối ngân sách tỉnh thực hiện 189 tỷ đồng, tăng 41,4%; nguồn vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 245 tỷ đồng, tăng 27,8%... Nguồn vốn ngân sách cấp huyện thực hiện 282 tỷ đồng, giảm 8,1% so cùng kỳ; trong đó nguồn vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu 126 tỷ đồng, giảm 14,6%... đến cuối tháng 9 có 62/138 công trình hoàn thành (trong đó có 11/58 công trình mới). Nguồn vốn ngân sách cấp xã thực hiện 117 tỷ đồng, tăng 9,3%, trong đó nguồn vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 87 tỷ đồng, tăng 9,8%... Các huyện, thành phố, thị xã đã lập xong kế hoạch danh mục công trình giao thông nông thôn, có 281 công trình, đến nay đã thi công hơn 87% số lượng công trình. Địa phương có số lượng công trình thi công hoàn thành nhiều nhất là thành phố Mỹ Tho, huyện Cay Lậy và Chợ Gạo….

4. Thương mại - Giá cả - Dịch vụ

a. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội:

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng xã hội trong tháng thực hiện 4.379 tỷ đồng, tăng 7,3% so cùng kỳ; trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa được 3.573 tỷ đồng, tăng 6,4%. Mười tháng, tổng mức hàng hóa bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng xã hội thực hiện 43.784 tỷ đồng, đạt 78,9% kế hoạch, tăng 8,1% so cùng kỳ; trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa được 35.658 tỷ đồng, tăng 7,9%. Kinh tế nhà nước thực hiện 3.724 tỷ đồng, tăng 3,4%; kinh tế ngoài nhà nước thực hiện 39.823 tỷ đồng, tăng 8,4% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 237 tỷ đồng, tăng 46,6%. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp thực hiện 35.658 tỷ đồng, tăng 7,9%; lưu trú đạt 67 tỷ đồng, tăng 14,3%; ăn uống đạt 3.796 tỷ đồng, tăng 10,9%; du lịch lữ hành đạt 54 tỷ đồng, tăng 5,3%; dịch vụ đạt 4.209 tỷ đồng, tăng 7,3% so cùng kỳ.

b. Xuất - Nhập khẩu:

- Xuất khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng thực hiện được 198,9 triệu USD, tăng 3,4% so tháng trước. Tính chung 10 tháng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện 1.684,7 triệu USD, đạt 80,2% kế hoạch, tăng 18,6% so cùng kỳ; kinh tế nhà nước thực hiện 9,2 triệu USD, giảm 64,1%, kinh tế ngoài nhà nước thực hiện 481,7 triệu USD, tăng 4,1%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 1.193,8 triệu USD, tăng 28,2%. Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh trong 10 tháng cụ thể như sau:

+ Hàng thủy sản: xuất khẩu được 104.157 tấn, tăng 5%, về giá trị đạt 218,1 triệu USD, giảm 2,8% so cùng kỳ. Sau một thời gian dài giảm mạnh, giá cá tra đã tăng trở lại, hiện giá cá tra đang được thương lái thu mua ở mức 22.800 đồng/kg, với mức giá này sau khi trừ chi phí người nuôi có lãi khoảng 4.000 đồng/kg, đây là mức giá cao nhất kể từ đầu năm 2016 đến nay. 

+ Gạo: xuất khẩu được 112.395 tấn, giảm 33%, về trị giá đạt 52,2 triệu USD, giảm 27,8% so cùng kỳ. Sau khi Việt nam trúng thầu cung cấp 150.000 tấn gạo cho Philippines nhưng thị trường vẫn tiếp tục trầm lắng, các doanh nghiệp không ký được các hợp đồng mới, một số thị trường truyền thống như Trung Quốc và Malaysia thị trường xuất khẩu giảm mạnh. Bên cạnh đó Việt Nam ngày càng cạnh tranh với các nhà xuất khẩu mới như Campuchia, Myanmar.

+ Hàng rau quả: xuất khẩu được 5.887 tấn, giảm 3,5%, về trị giá đạt 11,3 triệu USD, tăng 23,5% so cùng kỳ. Hàng rau quả chế biến tập trung chủ yếu vào Công ty cổ phần rau quả Tiền Giang với các mặt hàng sơ chế đông lạnh chưa tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

+ Hàng dệt may: xuất khẩu được 70.714 ngàn sản phẩm, giảm 7,9%, giá trị đạt 403,1 triệu USD, tăng 32% so cùng kỳ. Trị giá xuất khẩu hàng may mặc chiếm tỷ trọng 23% trị giá xuất khẩu của tỉnh, trong đó tập trung chủ yếu vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như Hàn Quốc, Trung Quốc khi những ưu đãi mà Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương cũng như Hiệp định thương mại tự do mang lại lợi thế tập trung vào các doanh nghiệp này.

- Nhập khẩu:

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 10 trị giá 101,1 triệu USD, tăng 1,8% so tháng trước. 10 tháng nhập khẩu 979,2 triệu USD, đạt 81,6% kế hoạch, tăng 9,1% so cùng kỳ; trong đó kinh tế tư nhân 205,6 triệu USD, giảm 22,3%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 773,6 triệu USD, tăng 22,2% so cùng kỳ. Hàng nhập khẩu tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 972,9 triệu USD, tăng 9,1% so cùng kỳ; trong đó nhập khẩu cho sản xuất chế biến thực phẩm 158 triệu USD, đạt 78,8%, may mặc 300 triệu USD, tăng 36,9%, sản xuất da và các sản phẩm liên quan 251,2 triệu USD, đạt 81,1%.

c. Giá cả:

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 tăng 0,98% so tháng trước (thành thị tăng 1,25%, nông thôn tăng 0,91%); so với tháng 9 năm 2015 tăng 2,64%; so với tháng 12 năm trước tăng 2,54% và bình quân chín tháng đầu năm 2016 so với bình quân 9 tháng năm 2015 tăng 2,25%. So với tháng trước có 7/11 nhóm hàng có chỉ số tăng, cao nhất là nhóm giáo dục tăng 21,31%, kế đến là nhóm giao thông tăng 0,63%... Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch ổn định. Có 3/11 nhóm hàng giảm: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,33%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,06% và bưu chính viễn thông giảm 0,06% so với tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 tăng tháng trước chủ yếu là do:

+ Thực hiện Nghị Quyết số 08 và 09/2016/NQ-HĐND ngày 5 tháng 8 năm 2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh dẫn đến nhóm hàng giáo dục tăng 21,31% so với tháng trước, đóng góp vào mức tăng chung chỉ số giá tiêu dùng khoảng 1,03%.

+ Giá xăng dầu điều chỉnh tăng vào ngày 19/8/2016 và ngày 5/9/2016, trong đó giá xăng tăng 1.380 đồng/lít, dầu diezen 0,05S tăng 720 đồng/lít và dầu hỏa tăng 690 đồng/lít làm chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,05%; giá gas tăng 6.000 đồng/bình 12 kg vào ngày 1/9/2016, tác động chỉ số giá gas tăng 0,25% so với tháng trước.

d. Du lịch:

Khách du lịch đến trong tháng 10 ước đạt 129.892 lượt khách, giảm 1,3% so tháng trước, trong đó khách quốc tế đạt 40.026 lượt khách, giảm 1,2%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành đạt 404,2 tỷ đồng, giảm 1,1% so tháng trước. 10 tháng qua, tổng số khách du lịch ước 1.320.651 lượt khách, đạt 86,9% kế hoạch, tăng 6,4% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế 434.347 lượt khách, đạt 87,7% kế hoạch, tăng 6,7% so cùng kỳ; tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành đạt 3.916,9 tỷ đồng, tăng 10,9% so cùng kỳ..

e. Vận tải:

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 172 tỷ đồng, tăng 2% so tháng trước. Tính chung 10 tháng thực hiện 1.619,2 tỷ đồng, tăng 6,3% so cùng kỳ; trong đó doanh thu chủ yếu là của thành phần kinh tế ngoài nhà nước. Vận tải đường bộ thực hiện 926,5 tỷ đồng, tăng 0,5%, vận tải đường sông 620,7 tỷ đồng, tăng 13,2%, vận tải đường biển thực hiện 72 tỷ đồng, tăng 10,1%.

Vận chuyển hành khách trong tháng thực hiện 2.507 ngàn lượt khách và luân chuyển được 89.054 ngàn lượt khách-km; trong đó vận chuyển của cơ sở kinh tế cá thể được 1.826 ngàn lượt khách và luân chuyển được 69.755 ngàn lượt khách-km. Mười tháng đầu năm vận chuyển hành khách được 24.810 ngàn lượt khách, giảm 11,4% và luân chuyển được 913.370 ngàn lượt khách-km, giảm 7,4% so cùng kỳ. Vận chuyển đường bộ thực hiện 17.625 ngàn lượt khách, giảm 16,5% và luân chuyển được 900.687 ngàn lượt khách-km, giảm 7,1% so cùng kỳ. Vận chuyển đường sông thực hiện 7.185 ngàn lượt khách, tăng 4,2% và luân chuyển được 12.683 ngàn lượt khách-km, giảm 24,5%.  

Vận tải hàng hóa trong tháng thực hiện 1.377 ngàn tấn và luân chuyển được 119.389 ngàn tấn-km, trong đó vận tải cơ sở kinh tế cá thể được 686 ngàn tấn và luân chuyển được 38.853 ngàn tấn-km. Mười tháng, vận tải hàng hóa đạt 11.971 ngàn tấn, tăng 4,3% và luân chuyển được 1.155,2 ngàn tấn-km, tăng 8,3% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 3.138 ngàn tấn, giảm 8,8% và luân chuyển được 253.215 ngàn tấn-km, giảm 12,2% so cùng kỳ. Vận tải đường sông thực hiện 8.833 ngàn tấn, tăng 9,9% và luân chuyển được 901.978 ngàn tấn-km, tăng 15,8%.

f. Bưu chính viễn thông:

Doanh thu dịch vụ bưu chính viễn thông trong tháng đạt 164,6 tỷ đồng, tăng 1,3% so tháng trước. Mười tháng đầu năm doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 1.559,7 tỷ đồng, tăng 3,8% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 54,6 tỷ đồng, tăng 2,6% so cùng kỳ, viễn thông đạt 1.505,1 tỷ đồng, tăng 3,8% so cùng kỳ.

Thuê bao điện thoại trong tháng giảm 4.380 thuê bao, trong đó: thuê bao cố định giảm 4.400 thuê bao. Tổng số thuê bao có trên mạng đến cuối tháng 10 là 143.343 thuê bao, mật độ bình quân đạt 8,3 thuê bao/100 dân. Thuê bao Internet trong tháng phát triển mới 3.200 thuê bao, thuê bao Internet có trên mạng cuối tháng 10 là 104.637 thuê bao, mật độ Internet bình quân đạt 6,1 thuê bao/100 dân.

5. Tài chính:

Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thu được 676 tỷ đồng, trong đó thu từ kinh tế địa phương thu được 505 tỷ đồng. Mười tháng thu được 8.751 tỷ đồng, đạt 108,3% kế hoạch và giảm 1,9% so cùng kỳ; trong đó thu từ kinh tế địa phương 5.575 tỷ đồng, đạt 95,2% kế hoạch tăng 18,6% (trong thu từ kinh tế địa phương: thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh được 766 tỷ đồng, đạt 90% kế hoạch, tăng 17,6% so cùng kỳ).

Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 765 tỷ đồng. Mười tháng chi 7.358 tỷ đồng, đạt 97,8% kế hoạch và tăng 13,9% so cùng kỳ; trong đó chi đầu tư phát triển 2.159 tỷ đồng, đạt 98,2% kế hoạch và tăng 40,1%; chi thường xuyên 4.367 tỷ đồng, đạt 84,7% kế hoạch, tăng 3,2% (trong chi thường xuyên: chi hành chánh sự nghiệp 4.109 tỷ đồng, đạt 87,3% kế hoạch và tăng 3,8% so cùng kỳ).

II. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI:

1. Lao động việc làm:

Trong tháng, tư vấn cho 1.844 lượt lao động, trong đó: tư vấn nghề cho 72 lao động, tư vấn việc làm cho 1.743 lao động; giới thiệu việc làm cho 559 lượt lao động và đã có 446 lao động có được việc làm ổn định. Thực hiện tiếp nhận 1.059 người đăng ký thất nghiệp, giải quyết cho 1.297 người hưởng trợ cấp thất nghiệp với tổng số tiền chi trả tương đương 12,1 tỷ đồng, tăng 48,4% so với cùng kỳ; từ đầu năm đến nay tiếp nhận đăng ký thất nghiệp 9.770 người, số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 9.380 người với tổng số tiền chi trả tương đương 84,1 tỷ đồng,  giảm 1,67% so với so với cùng kỳ. Tư vấn cho 195 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài và có 120 lượt lao động đăng ký tham gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; trong tháng có 26 lao động xuất cảnh chính thức; từ đầu năm đến nay có 152 lao động xuất cảnh, đạt 101,3% kế hoạch, tăng 4,7% so với cùng kỳ.

2. Chính sách xã hội:

Trong tháng, quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” đã vận động số tiền 825 triệu đồng, từ đầu năm đến cuối tháng 10 vận động được 11.314 triệu đồng, đạt 113,1% kế hoạch, tăng 14,1% so với cùng kỳ. Tổ chức bàn giao đưa vào sử dụng 32 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 1.330 triệu đồng; lũy kế đến cuối tháng 10 là 132 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 5.300 triệu đồng, đạt 101,5% kế hoạch, tăng 27% so cùng kỳ; sửa chữa 6 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 100 triệu đồng, lũy kế từ đầu năm đến nay đã sửa chữa 70 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 1.373 triệu đồng, đạt 200% kế hoạch, tăng 60% so cùng kỳ.

Quỹ Bảo trợ trẻ em vận động được số tiền 206 triệu đồng; trong đó, hàng hóa 204 triệu đồng;  hỗ trợ cho 530 em trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn trong toàn tỉnh. Lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng này đã vận động được  3,4 tỷ đồng, trong đó: tiền mặt 863,6 triệu đồng.

3. Chăm sóc sức khỏe:

Tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tháng 10 so cùng kỳ có có 8 bệnh tăng và 8 bệnh giảm, những bệnh khác tương hoặc không xảy ra cas mắc. Những bệnh giảm: lỵ trực tràng giảm (-) 100%, sốt rét -100%, liệt mềm cấp nghi bại liệt -100%... Những bệnh tăng: thương hàn tăng (+) 28,6%, tiêu chảy +36,4%, viêm gan virus +127,8%, thủy đậu + 8,5%, ho gà +100%, uốn ván không phải sơ sinh +15cas, rubella +18 cas, tay chân miệng +16,3%. Về phòng chống bệnh sốt xuất huyết: tháng 10 ghi nhận 231 cas mắc, cộng dồn cas mắc 1.892 cas, tăng 40,7% so cùng kỳ, số cas mắc sốt xuất huyết trên 15 tuổi tăng 18,2%, số cas mắc sốt xuất huyết độ nặng tăng 27,4%, không xảy ra tử vong do mắc sốt xuất huyết.

Công tác khám chữa bệnh vẫn thường xuyên quá tải bệnh viện tuyến tỉnh, công suất sử dụng giường bệnh tháng 10 bình quân của các cơ sở điều trị đạt 102%, bệnh viện tuyến tỉnh đạt 110%, các bệnh viện chuyên khoa đạt 94,6%, bệnh viện tuyến huyện đạt 70,6%... Từ đầu năm đến cuối tháng 10 đã khám chữa bệnh 4.316.212 lượt người, giảm 2,8% so cùng kỳ, trong đó điều trị nội trú 192.380 lượt người, tăng 7,6%. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm cũng thường xuyên được quan tâm, trong tháng có 900 lượt kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm các cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm, đạt vệ sinh là 858 lượt, tỷ lệ 95,3%; trong tháng không xảy ra ngộ độc thực phẩm.

4. Giáo dục - Đào tạo:

Trong tháng 10, công tác dạy và học trong ngành tiếp tục ổn định và đi vào nền nếp; tiếp tục thực hiện Chỉ thị về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016-2017; các cơ sở giáo dục và đào tạo tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc tổ chức học tập về những nội dung cơ bản các cuộc vận động và xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực; tổ chức thực hiện Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2016. Toàn tỉnh hiện có 169 trường đạt chuẩn quốc gia; trong đó mầm non 26 trường, tỷ lệ 14%; tiểu học 113 trường, tỷ lệ 50,4%; trung học cơ sở 26 trường, tỷ lệ 20,6%; trung học phổ thông 4 trường, tỷ lệ 10,8%.

5. Văn hóa - thể thao - truyền thanh:

Trong tháng, toàn ngành thực hiện 25 tấm panô, 240 băngrol-khẩu hiệu, hàng trăm cờ các loại cùng với nhiều hoạt động văn hóa - văn nghệ tập trung đẩy mạnh tuyên truyền phối hợp tổ chức phục vụ diễn tập kỷ niệm 70 năm cơ quan chính trị Quân khu 8; thư viện tỉnh đã phục vụ 22.256 lượt bạn đọc, giảm 19,8% so với cùng kỳ, với 47.172 lượt sách báo được lưu hành.Trung tâm Văn hóa tỉnh tham gia Liên hoan “Đàn hát dân ca 3 miền” do Cục Văn hóa cơ sở tổ chức tại Kiên Giang; kết quả: đạt 1 huy chương vàng toàn đoàn; 1 huy chương vàng và 2 huy chương bạc giải tiết mục. Trong tháng, Thanh tra Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịchphối hợp với đội kiểm tra liên ngành tổ chức kiểm tra và xử lý hoạt động kinh doanh gây tiếng ồn; thực hiện 3 cuộc với 24 lượt kiểm tra, phát hiện 6 vụ vi phạm.

6. Tình hình trật tự an toàn giao thông: Theo báo cáo của Ngành công an từ 15/9 đến 15/10 như sau:

Giao thông đường bộ: trong tháng tai nạn xảy ra 39 vụ, tăng 12 vụ so với tháng trước và tăng 14 vụ so cùng kỳ; làm chết 22 người, tăng 10 người so tháng trước và tăng 8 người so cùng kỳ; bị thương 28 người, giảm 2 người so tháng trước và tăng 12 người so cùng kỳ. Tai nạn từ đầu năm đến kỳ báo cáo là 330 vụ, tăng 67 vụ so cùng kỳ; làm chết 187 người, tăng 50 người so cùng kỳ; bị thương 245 người, tăng 35 người so cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong tháng xảy ra 6.596 vụ, tăng 216 vụ so tháng trước và tăng 1.064 vụ so cùng kỳ; đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 4.828 vụ, tước giấy phép lái xe 537 vụ, phạt tiền 1.768 vụ với số tiền phạt 3.198 triệu đồng. Từ đầu năm đến kỳ báo cáo vi phạm trật tự an toàn giao thông 55.700 vụ, giảm 1.573 vụ so cùng kỳ; đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 40.098 vụ, tước giấy phép lái xe 4.829 vụ, phạt tiền 15.583 vụ với số tiền phạt 24.737 triệu đồng.

Giao thông đường thủy: trong tháng xảy ra 1 vụ, tương đương so tháng trước, tăng 1 vụ so cùng kỳ. Từ đầu năm đến kỳ báo cáo, tai nạn xảy ra 6 vụ, tương đương so cùng kỳ, làm chết 1 người tương đương so cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường thủy trong tháng xảy ra 2.051 vụ, tăng 412 vụ so tháng trước và tăng 297 vụ so cùng kỳ; đã xử lý vi phạm: lập biên bản tạm giữ giấy tờ 387 vụ và phạt tiền tại chỗ 1.664 vụ với số tiền phạt: 169 triệu đồng. Từ đầu năm đến kỳ báo cáo, vi phạm trật tự xảy ra 15.359 vụ, tăng 1.037 vụ so cùng kỳ; đã xử lý vi phạm: nhắc nhở buộc cam kết 12 vụ, lập biên bản tạm giữ giấy tờ 3.071 vụ và phạt tiền 12.258 vụ với số tiền phạt: 1.257 triệu đồng.

7. Tình hình cháy nổ:

Trong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 4 vụ cháy, tài sản thiệt hại ước tính trên 14 tỷ đồng. Nguyên nhân do sự cố điện 1 vụ, do quá trình vận hành sản xuất 1 vụ, do cố ý đốt 1 vụ và 1 vụ đang được điều tra làm rõ. Trong đó, vụ cháy lớn xảy ra ngày 12/10 thiệt hại hoàn toàn dịch vụ Karaoke Cosy tại phường 5, TP. Mỹ Tho; qua thống kê sơ bộ thiệt hại về tài sản ước tính trên 14 tỷ đồng; không có thiệt hại về người; hiện đang trưng cầu Bộ Công an khám nghiệm hiện trường để xác định nguyên nhân gây ra cháy.

Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 27 vụ cháy. Tổng giá trị tài sản thiệt hại trên 17,5 tỷ đồng.

Ước số liệu tháng 10

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Tiền Giang

Thủ tục hành chính
Văn bản điện tử