Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang tháng 11 năm 2016
I. KINH TẾ

1. Sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản:

- Trồng trọt: cây lương thực có hạt trong tháng không xuống giống, sản lượng thu hoạch được 26.016 tấn; mười một tháng gieo trồng được 219.544 ha, đạt 103,1% kế hoạch và giảm 4,2% so cùng kỳ; tổng sản lượng thu hoạch được 1.143.858 tấn, đạt 92% kế hoạch, giảm 6,3% so cùng kỳ. Đến cuối tháng 11, cây lúa đã kết thúc năm sản xuất, chính thức xuống giống 215.413 ha, đạt 103,3% kế hoạch, giảm 4,2% so cùng kỳ do chuyển đổi cây trồng; đã thu hoạch xong 185.318 ha; năng suất bình quân 61 tạ/ha, sản lượng 1.130.362 tấn, giảm 6,3% so cùng kỳ. Cây bắp trồng được 4.111 ha, đạt 93,1% kế hoạch, giảm 6% so cùng kỳ, thu hoạch 3.732 ha, năng suất bình quân 36 tạ/ha, với sản lượng 13.446 tấn.

Cùng với việc gieo sạ cây lúa, 11 tháng trên địa bàn tỉnh, cây chất bột có củ trồng 1.223 ha, đạt 132,5% kế hoạch, giảm 17,2% so cùng kỳ, trong đó diện tích khoai mỡ là 588 ha. Cây rau đậu các loại trong tháng trồng 91 ha, thu hoạch 3.115 ha với sản lượng 55.186 tấn; 11 tháng gieo trồng 52.477 ha, đạt 102,7% kế hoạch, tăng 4,4% so cùng kỳ, thu hoạch 47.248 ha, năng suất bình quân 178,6 tạ/ha với sản lượng 843.989 tấn; trong đó rau các loại gieo trồng 52.276 ha, tăng 4,5% so cùng kỳ, thu hoạch 47.100 ha, năng suất bình quân 179,1 tạ/ha, sản lượng 843.561 tấn. Cây công nghiệp hàng năm trồng 682 ha, giảm 16,5% so cùng kỳ; trong đó diện tích lạc 388 ha, tăng 0,9%, mía 236 ha, giảm 21,5% so cùng kỳ.

Vụ Đông Xuân 2016-2017: ước cuối tháng 11 toàn tỉnh xuống giống 74.000 ha, theo thông báo đến 15/12/2016 địa phương nào xuống giống không kịp khung thời vụ khuyến cáo có thể cắt vụ hoặc chuyển sang trồng màu để đảm bảo sản xuất an toàn. Năm nay không có lũ nên khả năng ốc bươu vàng nhân mật số cao, ngộ độc hữu cơ có thể xảy ra, vì vậy bà con nông dân cần chủ động áp dụng các biện pháp phòng trị thích hợp để tránh thiệt hại.

- Chăn nuôi: thời điểm 01/10 chăn nuôi trên địa bàn tỉnh như sau:

Tổng đàn bò có 123,7 ngàn con, đạt 141,7% kế hoạch, tăng 40,1% so cùng kỳ, tương ứng tăng 35.438 con. Tổng đàn lợn có 715,9 ngàn con, đạt 119% kế hoạch, tăng 18,8% so cùng kỳ, tương ứng tăng gần 113 ngàn con, chủ yếu tăng ở loại hình nuôi trang trại, do chuẩn bị cung ứng cho thị trường lượng thịt hơi trong dịp tết 2017. Tổng đàn gia cầm 13 triệu con, đạt 148,5% kế hoạch, tăng 45,9% so cùng kỳ, tương ứng tăng 4,1 triệu con; trong đó đàn gà 10,6 triệu con. Nhiều địa phương đã triển khai thực hiện mô hình nuôi gà theo hướng an toàn sinh học vừa bảo vệ môi trường, vừa tiết kiệm chi phí. Tình hình dịch bệnh được kiểm soát, đàn gia cầm phát triển mạnh, không chỉ nuôi gà công nghiệp, gà thịt mà người chăn nuôi đã đưa mô hình nuôi gà ri, gà tre phát triển mạnh góp phần quan trọng vào việc đa dạng hóa vật nuôi, tăng thêm thu nhập cho nông hộ. Nhiều nông dân làm giàu nhờ chăn nuôi theo quy mô trang trại.

- Thủy hải sản: tính đến tháng 11 đã kết thúc năm thả nuôi thủy sản, tổng diện tích nuôi các loại 15.348 ha, đạt 97,8% kế hoạch, giảm 1,5% so cùng kỳ. Diện tích nước ngọt thả nuôi 6.295 ha, giảm 0,4% so cùng kỳ do nắng nóng kéo dài kết hợp với mực nước trên các sông ngòi, kênh rạch thấp và tình hình xâm nhập mặn sâu vào đất liền nên đã ảnh hưởng đến việc nuôi nước ngọt nhất là các huyện phía Đông.

Tình hình dịch bệnh trên tôm: tính từ đầu năm đến nay đã có 140,9 ha tôm nuôi thâm canh, bán thâm canh ở 2 huyện Gò Công Đông và Tân Phú Đông bị thiệt hại, chiếm 5,1% diện tích thả nuôi (2.787 ha).

Sản lượng thủy sản thu hoạch trong tháng 38.474 tấn, tăng 82,6% so cùng kỳ. Mười một tháng thu hoạch 233.095 tấn, đạt 96,2% kế hoạch, tăng 3,1% so cùng kỳ; trong đó, sản lượng thu hoạch từ nuôi 141.030 tấn, tăng 3,6% do nuôi nghêu, nuôi lồng bè và nuôi cá thâm canh với qui mô lớn ổn định nên sản lượng thu hoạch đạt khá; sản lượng khai thác 92.065 tấn, tăng 2,3% so cùng kỳ do thời tiết thuận lợi và ngư trường khai thác ổn định nên sản lượng tăng.

2. Sản xuất công nghiệp:

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp trong tháng giảm 2,7% so với tháng 10 và tăng 15,2% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,8% so với cùng kỳ, bao gồm: công nghiệp khai khoáng giảm 73,3% do các doanh nghiệp hoạt động khai thác cát tạm ngưng hoạt động; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15%, trong đó sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,6%, sản xuất kim loại tăng 43,2%, sản xuất thiết bị điện tăng 156,1%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 15%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,5% so cùng kỳ.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10 so với tháng 9 giảm 13,4% và so cùng kỳ giảm 28,5%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng thời điểm năm trước là: sản phẩm gạo xay xát tăng 13,2%, thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh dạng viên bằng gấp 97,1 lần... Bên cạnh đó có một số ngành có chỉ số tồn kho giảm là: thức ăn cho gia súc giảm 60,2%, sản xuất thức ăn cho thủy sản giảm 58,1%, sản phẩm bia đóng chai giảm 72,7%, sản phẩm bia đóng lon giảm 38,8%...

3. Đầu tư  Xây dựng:

Trong tháng, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện được 209 tỷ đồng. Tính chung 11 tháng thực hiện 1.844 tỷ đồng, đạt 89,4% kế hoạch, tăng 13% so cùng kỳ. Nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh thực hiện 1.391 tỷ đồng, tăng 17,9% so cùng kỳ; trong đó vốn cân đối ngân sách tỉnh thực hiện 213 tỷ đồng, tăng 43,2%; nguồn vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 264 tỷ đồng, tăng 21,9%; vốn xổ số kiến thiết thực hiện 593 tỷ đồng, tăng 18%... Nguồn vốn ngân sách cấp huyện thực hiện 311 tỷ đồng, giảm 5,9% so cùng kỳ; trong đó vốn cân đối ngân sách huyện 146 tỷ đồng, giảm 0,7%; nguồn vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu 141 tỷ đồng, giảm 12,4%... Nguồn vốn ngân sách cấp xã thực hiện 142 tỷ đồng, tăng 17% so cùng kỳ, trong đó vốn cân đối ngân sách xã thực hiện 29 tỷ đồng, tăng 17,2%; nguồn vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 107 tỷ đồng, tăng 18,2%...

4. Thương mại - Giá cả - Dịch vụ

a. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội:

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng xã hội trong tháng thực hiện 4.357 tỷ đồng, tăng 3,5% so cùng kỳ; trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa được 3.539 tỷ đồng, tăng 3,4%. Mười một tháng, tổng mức hàng hóa bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng xã hội thực hiện 48.152 tỷ đồng, đạt 86,8% kế hoạch, tăng 7,7% so cùng kỳ; trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa được 39.150 tỷ đồng, tăng 7,4%. Kinh tế nhà nước thực hiện 4.115 tỷ đồng, tăng 3%; kinh tế ngoài nhà nước thực hiện 43.760 tỷ đồng, tăng 8% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 277 tỷ đồng, tăng 54,7% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp thực hiện 39.150 tỷ đồng, tăng 7,4%; lưu trú đạt 75 tỷ đồng, tăng 14,8%; ăn uống đạt 4.203 tỷ đồng, tăng 11,5%; du lịch lữ hành đạt 58 tỷ đồng, tăng 5,2%; dịch vụ đạt 4.666 tỷ đồng, tăng 7,2% so cùng kỳ.

b. Xuất - Nhập khẩu:

- Xuất khẩu: kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng thực hiện được 181,1 triệu USD, tăng 8,3% so tháng trước. Tính chung 11 tháng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện 1.834,1 triệu USD, đạt 87,3% kế hoạch, tăng 15,3% so cùng kỳ; kinh tế nhà nước thực hiện 9,9 triệu USD, giảm 73,5%, kinh tế ngoài nhà nước thực hiện 529,9 triệu USD, tăng 1,5%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 1.294,3 triệu USD, tăng 25,7%. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:

+ Hàng thủy sản: tháng 11 xuất 13.126 tấn, tăng 1,6% so tháng trước; 11 tháng qua xuất khẩu được 118.680 tấn, tăng 3% so cùng kỳ, về giá trị đạt 246 triệu USD, giảm 3,5% so cùng kỳ.

+ Gạo: tháng 11 xuất 4.113 tấn với giá trị gần 2 triệu USD; 11 tháng xuất khẩu được 114.528 tấn, giảm 47,1% so cùng kỳ, về trị giá đạt 53,2 triệu USD, giảm 41,2% so cùng kỳ. Thời gian gần đây đồng bằng sông Cửu Long liên tục mưa lớn khiến năng suất, chất lượng gạo không đảm bảo, do đó giá bán ở thời điểm này khó cạnh tranh hơn so với các nguồn cung khác.

+ Hàng rau quả: tháng 11 xuất 354 tấn với giá trị gần 1 triệu USD; 11 tháng xuất khẩu được 6.177 tấn, giảm 4,4%, về trị giá đạt 12 triệu USD, tăng 24,7% so cùng kỳ.

+ Hàng dệt may: tháng 11 xuất 12.700 ngàn sản phẩm với giá trị 55 triệu USD; 11 tháng xuất khẩu được 83.318 ngàn sản phẩm, giảm 0,2% so cùng kỳ, giá trị đạt 447,1 triệu USD, tăng 32,2% so cùng kỳ. Một số nước trong khu vực như Lào, Myanmar, Campuchia đang cạnh tranh với Việt Nam xuất khẩu hàng may mặc vào thị trường Châu Âu, đây là thị trường truyền thống của các doanh nghiệp may mặc của tỉnh do có lợi thế hưởng thuế suất ưu đãi 0% dành cho các nước kém phát triển.

- Nhập khẩu: kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 11 trị giá 78,5 triệu USD, tăng 15,6% so tháng trước. Mười một tháng nhập khẩu 1.024,6 triệu USD, đạt 85,4% kế hoạch, tăng 0,8% so cùng kỳ; trong đó kinh tế tư nhân nhập 227,7 triệu USD, giảm 28,6%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhập 796,9 triệu USD, tăng 14,2% so cùng kỳ.

c. Giá cả:

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 tăng 0,47% so tháng 9 (thành thị tăng 0,5%, nông thôn tăng 0,46%); so với tháng 10 năm 2015 tăng 3%; so với tháng 12 năm 2015 tăng 3,02% và bình quân 10 tháng năm 2016 so với bình quân 10 tháng năm 2015 tăng 2,32%. So với tháng 9, có 7/11 nhóm hàng hóa có chỉ số tăng, tăng cao nhất là nhóm giao thông tăng 2,23%, kế đến là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống 0,73%..., tăng thấp nhất là nhóm thuốc và dịch vụ y tế. Có 3/11 nhóm hàng ổn định: đồ uống và thuốc lá, bưu chính viễn thông và giáo dục. Riêng nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,4% so tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 tăng so tháng trước chủ yếu là do:

+ Do thời tiết mưa nhiều làm cho giá rau xanh tăng mạnh từ 20-30% so tháng trước (bắp cải tăng 16,1%, cà chua tăng 33,71%, bí xanh tăng 38,43%, dưa chuột tăng 32,94%, củ cải trắng tăng 26,88%...), quả tươi và chế biến tăng từ 5-10% (xoài cát Hòa Lộc tăng 7%, xoài cát chu tăng 5,45%, chuối tăng 8,46%, dưa hấu tăng 6,52%, dứa tăng 5,01% và thanh long tăng 15,83%...) so tháng trước vì đa số các loại cây trồng đều bị ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch dẫn đến nguồn cung hạn chế.

+ Đầu tháng 10 giá gas trong nước tăng thêm 15.000 đồng/bình 12 kg bình màu xám, tác động chỉ số giá nhóm gas tăng 5,58%; giá dầu hỏa tăng vào ngày 05/10 và ngày 20/10/2016, tính chung tăng 660 đồng/lít, làm cho chỉ số giá nhóm gas và các loạt chất đốt khác tăng 4,35% so tháng trước, đóng góp tăng 0,04% vào mức tăng chung của chỉ số giá tiêu dùng.

+ Giá xăng dầu trong nước tăng 2 đợt vào ngày 05/10 và 20/10/2016 dẫn đến giá xăng A95 tăng 5,1%, A92 tăng 5,33%, dầu diezen 0,05S tăng 2,75%, tác động nhóm nhiên liệu tăng 4,19% nên đẩy chỉ số giá nhóm hàng giao thông tăng 2,23% so với tháng trước và đóng góp tăng 0,18% vào mức tăng chung của chỉ số giá tiêu dùng.

d. Du lịch:

Khách du lịch đến trong tháng 11 ước đạt 132.291 lượt khách, tăng 1,8% so tháng trước, trong đó khách quốc tế đạt 41.190 lượt khách, tăng 0,7% so tháng trước; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành đạt 415,6 tỷ đồng, tăng 2,1% so tháng trước. 11 tháng qua, tổng số khách du lịch ước đạt 1.453.059 lượt khách, đạt 95,6% kế hoạch, tăng 6,9% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế 476.431 lượt khách, đạt 96,2% kế hoạch, tăng 6,9% so cùng kỳ; tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành đạt 4.335,7 tỷ đồng, tăng 11,4% so cùng kỳ..

e. Vận tải:

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 172,4 tỷ đồng, tăng 1,2% so tháng trước. Tính chung 11 tháng thực hiện 1.789,8 tỷ đồng, tăng 6,8% so cùng kỳ; vận tải đường bộ thực hiện 1.025,5 tỷ đồng, tăng 1,2%, vận tải đường sông 682,1 tỷ đồng, tăng 13,4%, vận tải đường biển thực hiện 82,2 tỷ đồng, tăng 36,4% so cùng kỳ.

Vận chuyển hành khách trong tháng thực hiện 2.565 ngàn lượt khách và luân chuyển được 90.657 ngàn lượt khách-km; trong đó vận chuyển của cơ sở kinh tế cá thể được 1.871 ngàn lượt khách và luân chuyển được 71.075 ngàn lượt khách-km. Mười một tháng vận chuyển hành khách được 27.397 ngàn lượt khách, giảm 11% và luân chuyển được 1.005.155 ngàn lượt khách-km, giảm 7% so cùng kỳ. Vận chuyển đường bộ thực hiện 19.355 ngàn lượt khách, giảm 16,5% và luân chuyển được 991.047 ngàn lượt khách-km, giảm 6,8% so cùng kỳ. Vận chuyển đường sông thực hiện 8.042 ngàn lượt khách, tăng 5,9% và luân chuyển được 14.108 ngàn lượt khách-km, giảm 23,3% so cùng kỳ.

Vận tải hàng hóa trong tháng thực hiện 1.195 ngàn tấn, giảm 1,1% so tháng trước và luân chuyển được 119.583 ngàn tấn-km, tăng 1% so tháng trước; trong đó vận tải cơ sở kinh tế cá thể được 527 ngàn tấn và luân chuyển được 38.694 ngàn tấn-km. Mười một tháng, vận tải hàng hóa đạt 12.997 ngàn tấn, tăng 3,2% so cùng kỳ và luân chuyển được 1.273.761 ngàn tấn-km, tăng 8,7% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 3.428 ngàn tấn, giảm 9,7% và luân chuyển được 279.307 ngàn tấn-km, giảm 12,2% so cùng kỳ. Vận tải đường sông thực hiện 9.569 ngàn tấn, tăng 8,8% và luân chuyển được 994.454 ngàn tấn-km, tăng 16,4% so cùng kỳ.

f. Bưu chính viễn thông:

Doanh thu dịch vụ bưu chính viễn thông trong tháng đạt 163,4 tỷ đồng, tăng 1,7% so tháng trước. Mười một tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 1.719 tỷ đồng, tăng 3,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 56,6 tỷ đồng, giảm 3,3% so cùng kỳ, viễn thông đạt 1.662,4 tỷ đồng, tăng 4,2% so cùng kỳ.

Thuê bao điện thoại trong tháng tăng 600 thuê bao, trong đó: thuê bao di động trả sau tăng 550 thuê bao. Tổng số thuê bao có trên mạng đến cuối tháng 11 là  149.084 thuê bao, mật độ bình quân đạt 8,6 thuê bao/100 dân. Thuê bao Internet trong tháng phát triển mới 1.640 thuê bao, thuê bao Internet có trên mạng cuối tháng 11 là 103.077 thuê bao, mật độ Internet bình quân đạt 6 thuê bao/100 dân.

5. Tài chính:

Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thu được 655 tỷ đồng, trong đó thu từ kinh tế địa phương thu được 477 tỷ đồng. Mười một tháng thu được 10.158 tỷ đồng, đạt 125,7% kế hoạch và tăng 10,2% so cùng kỳ; trong đó thu từ kinh tế địa phương 6.103 tỷ đồng, đạt 104,3% kế hoạch tăng 22% so cùng kỳ (trong thu từ kinh tế địa phương: thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh được 848 tỷ đồng, đạt 99,7% kế hoạch, tăng 20,4% so cùng kỳ).

Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 770 tỷ đồng. Mười một tháng chi 7.927 tỷ đồng, đạt 105,4% kế hoạch và tăng 22,8% so cùng kỳ; trong đó chi đầu tư phát triển 2.326 tỷ đồng, đạt 105,8% kế hoạch và tăng 50,9%; chi thường xuyên 4.728 tỷ đồng, đạt 91,7% kế hoạch, tăng 11,7% (trong chi thường xuyên: chi hành chánh sự nghiệp 4.451 tỷ đồng, đạt 94,6% kế hoạch và tăng 12,5% so cùng kỳ).

II. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động việc làm:

Trong tháng đã giới thiệu việc làm cho 602 lượt lao động, 11 tháng đã giới thiệu cho 4.250 lao động, đạt 85% kế hoạch năm, trong đó có 3.109 lao động có được việc làm ổn định. Trong tháng có 12 lao động xuất cảnh chính thức, tổng số lao động xuất cảnh từ đầu năm đến nay có 164 lao động đạt 109,3% kế hoạch, tăng 11,3% so cùng kỳ. Tháng 11, tiếp nhận 992 người đăng ký thất nghiệp và giải quyết hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 907 người với tổng số tiền chi trả tương đương 9.425 triệu đồng. Mười một tháng có 10.762 người đăng ký bảo hiểm thất nghiệp và đã giải quyết trợ cấp thất nghiệp cho 10.287 người với tổng số tiền chi trả tương đương 93.555 triệu đồng.

2. Chính sách xã hội:

Trong tháng, quỹ “đền ơn đáp nghĩa” đã vận động số tiền 1.009 triệu đồng, lũy kế từ đầu năm là 12.324 triệu đồng, đạt 123,2% kế hoạch. Tổ chức bàn giao đưa vào sử dụng 8 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 320 triệu đồng, lũy kế từ đầu năm là 140 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 5.620 triệu đồng, đạt 107,7% kế hoạch; sửa chữa 13 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 280 triệu đồng, lũy kế từ đầu năm đến nay đã sửa chữa 83 ngôi nhà tình nghĩa đạt 237,1% kế hoạch với tổng kinh phí 1.653 triệu đồng. Quỹ Bảo trợ trẻ em vận động được 91,6 triệu đồng tiền mặt, lũy kế từ đầu năm đã vận động được 3,5 tỷ đồng; trong đó: tiền mặt 955,2 triệu đồng.  

3. Chăm sóc sức khỏe:

Công tác phòng chống dịch bệnh được thường xuyên quan tâm và theo dõi chặt chẽ. So với cùng kỳ có 7 bệnh tăng và 9 bệnh giảm, các bệnh khác tương đương hoặc không xảy ra. Những bệnh tăng như: bệnh viêm gan vi rút tăng 63%, tiêu chảy tăng 23,3%, quai bị tăng 1,8%, thủy đậu tăng 0,9%, rubella tăng 18 cas…; những bệnh giảm như: bệnh sốt rét giảm 100%, bệnh cúm giảm 83,3%, bệnh sởi giảm 83,3%, bệnh do liên cầu lợn ở người giảm 75%, thương hàn giảm 18,2%, tay chân miệng giảm 13,7%...

Từ đầu năm đến nay đã khám bệnh cho 4.773.020 lượt người, giảm 3% so cùng kỳ, trong đó: điều trị nội trú là 214.125 lượt người, tăng 7,4%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân của các cơ sở điều trị trong tháng đạt 111%; trong đó: bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đạt 127%, bệnh viện chuyên khoa đạt 94,4%, bệnh viện tuyến huyện đạt 71,4%... Công tác vệ sinh an toàn cũng được ngành y tế quan tâm, trong tháng ngành phối hợp kiểm tra 1.225 cơ sở sản xuất, có 97% cơ sở đạt tiêu chuẩn, trong tháng không xảy ra ngộ độc thực phẩm.

4. Giáo dục - Đào tạo:

Toàn ngành giáo dục và đào tạo tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị của Ủy ban nhân dân tỉnh về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016 - 2017; tổ chức các hoạt động kỷ niệm 34 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11; các cơ sở giáo dục và đào tạo tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Số liệu thống kê học sinh đầu năm học 2016 - 2017 như sau: Mầm non có 231 trường, 4.503 trẻ nhà trẻ, 55.130 học sinh mẫu giáo; Tiểu học có 224 trường, 134.113 học sinh; Trung học cơ sở có 127 trường, 101.925 học sinh, tuyển mới vào lớp 6 là 26.417 học sinh; Trung học phổ thông có 37 trường, 41.157 học sinh; tuyển sinh lớp 10 năm học 2016 - 2017 có 15.108 học sinh.

5. Văn hóa - thể thao:

Tiếp tục kiểm tra xử lý các dịch vụ kinh doanh gây tiếng ồn trên địa bàn tỉnh; tổ chức kiểm tra công tác gia đình và phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn; tổ chức triển khai Nghị định số 61/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về việc “Quy định điều kiện kinh doanh giám định cổ vật và hành nghề bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh” cho các doanh nghiệp, các địa phương trên địa bàn tỉnh… Phong trào thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh luôn được duy trì và phát triển: đội Vovinam tham dự giải vô địch Vovinam toàn quốc năm 2016 từ ngày 22/10 - 31/10 tại tỉnh Nghệ An đạt: 1 huy chương vàng, 1 huy chương bạc, 3 huy chương đồng; đội cử tạ tham dự giải vô địch cử tạ toàn quốc năm 2016 tại Đà Nẵng từ ngày 27/10 - 2/11 đạt: 1 huy chương vàng, 1 huy chương bạc, 1 huy chương đồng.

6. Tình hình trật tự an toàn giao thông: Theo báo cáo của Ngành công an đến 15/10 như sau:

Giao thông đường bộ: tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 32 vụ, giảm 7 vụ so với tháng trước và giảm 3 vụ so cùng kỳ; làm chết 18 người, giảm 4 người so tháng trước và tương đương so cùng kỳ; bị thương 22 người, giảm 6 người so với tháng trước và giảm 5 người so cùng kỳ. Tổng số vụ từ đầu năm đến nay xảy ra 362 vụ, tăng 64 vụ so cùng kỳ; làm chết 205 người, tăng 50 người so cùng kỳ; bị thương 267 người, tăng 30 người so cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong tháng xảy ra 6.748 vụ, tăng 152 vụ so tháng trước và tăng 1.107 vụ so cùng kỳ; đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 4.597 vụ, tước giấy phép lái xe 810 vụ, phạt tiền 2.151 vụ với số tiền phạt 3.293 triệu đồng. Tổng số vụ vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ từ đầu năm đến nay xảy ra 62.448 vụ, giảm 467 vụ so cùng kỳ; đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 44.695 vụ, tước giấy phép lái xe 5.639 vụ, phạt tiền 17.734 vụ với số tiền phạt 28.030 triệu đồng.

Giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra tai nạn, giảm 1 vụ so tháng trước, giảm 1 vụ so cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay xảy ra 6 vụ tai nạn giảm 1 vụ so cùng kỳ; làm chết 1 người, giảm 1 người so cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường thủy trong tháng xảy ra 1.960 vụ, giảm 91 vụ so tháng trước và tăng 262 vụ so cùng kỳ; đã xử lý vi phạm: lập biên bản tạm giữ giấy tờ 394 vụ và phạt tiền tại chỗ 1.566 vụ với số tiền phạt: 158,3 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay tổng số vụ vi phạm an toàn giao thông đường thủy là 17.319 vụ tăng 1.299 vụ so cùng kỳ; đã xử lý vi phạm: nhắc nhở buộc cam kết 12 vụ, lập biên bản tạm giữ giấy tờ 3.465 vụ và phạt tiền 13.824 vụ với số tiền phạt: 1.415,3 triệu đồng.

7. Tình hình cháy nổ:

Trong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 4 vụ cháy, tài sản thiệt hại ước tính trên 116 triệu đồng. Nguyên nhân do chập điện 2 vụ, do củi trấu còn tàn lửa nhiệt độ cao bắt vào băng tải cao su gây ra cháy 1 vụ, đang điều tra 1 vụ. Từ đầu năm đến nay xảy ra 31 vụ cháy, ước tính tài sản thiệt hại trên 17,6 tỷ đồng. Vi phạm môi trường 5 vụ và lập hồ sơ xử lý 3 vụ với số tiền phạt 7 triệu đồng, từ đầu năm tới nay phát hiện 30 vụ, đã xử lý 27 vụ, với tổng số tiền xử phạt hơn 1 tỷ đồng.

SL ước tháng 11/2016

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Tiền Giang

Thủ tục hành chính
Văn bản điện tử