Đề tài nghiên cứu nâng cao chất lượng dân số được đưa vào ứng dụng đạt hiệu quả sau khi nghiệm thu

Con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của tất cả các hoạt động xã hội. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng cuộc sống con người cần phải được đặc biệt quan tâm. Chúng ta đã đạt các thành tựu nổi bật trong công tác Dân số kế hoạch hóa gia đình, đó là: (1) Mức sinh giảm mạnh, đã đạt và duy trì được mức sinh thay thế; (2) Việt Nam đang ở giai đoạn cơ cấu "dân số vàng" kể từ năm 2010; (3) tuổi thọ bình quân của người Việt Nam từ 40 tuổi năm 1960 đã nâng lên 73 tuổi năm 2013.

Tư vấn về sàng lọc trước sinh và sơ sinh cho các thai phụ và các bà mẹ.

Bên cạnh những thành tựu, công tác Dân số nước ta và tại tỉnh Tiền Giang còn nhiều thách thức, đó là: (1) Chất lượng dân số tuy được nâng lên nhưng chưa cao, Chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta còn rất thấp so với thế giới; (2) Mất cân bằng giới tính khi sinh ngày càng tăng lên; (3) Kinh phí đầu tư cho công tác dân số kế hoạch hóa gia đình từ chương trình mục tiêu Quốc gia giảm dần từ năm 2012.

Để từng bước giải quyết tốt những vấn đề và những thách thức đặt ra, góp phần thực hiện đạt mục tiêu Chiến lược dân số sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 - 2020 trên địa bàn tỉnh, Sở Y tế tiến hành nghiên cứu Đề tài "Triển khai các mô hình can thiệp về y tế, nhằm nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn tỉnh Tiền Giang" với các mục tiêu:

1. Đánh giá tình hình mất cân bằng giới tính khi sinh qua 5 năm (2010 - 2014), phân tích các yếu tố ảnh hưởng về y tế để can thiệp, nhằm từng bước khống chế tốc độ gia tăng mất cân bằng giới tính khi sinh trong những năm tiếp theo.

2. Xây dựng và đánh giá hiệu quả mô hình điểm về "Tư vấn và kiểm tra sức khoẻ tiền hôn nhân" tại 06 xã thuộc huyện Tân Phú Đông.

3. Triển khai mô hình sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh, nhằm phát hiện xử trí sớm các bệnh, tật, giảm thiểu tình trạng trẻ dị dạng, dị tật bẩm sinh và thiểu năng trí tuệ trên địa bàn toàn tỉnh.

Sau 02 năm tiến hành nghiên cứu, ngày 23/11/2015, UBND tỉnh đã ra Quyết định số 3133/QĐ-UBND, qua đó đã nghiệm thu đề tài và xếp loại A. Kết quả, nghiên cứu đã đánh giá được tình hình mất cân bằng giới tính khi sinh trong 05 năm từ 2010 - 2014, dự báo xu hướng giới tính khi sinh của tỉnh trong những năm tiếp theo. Nghiên cứu đã xác định các yếu tố có liên quan đến mất cân bằng giới tính khi sinh tại tỉnh Tiền Giang như biết giới tính thai nhi thông qua siêu âm chẩn đoán giới tính, biết hoặc nghe thông tin về sinh con trai, gái theo ý muốn, muốn sinh thêm để có con trai, thực hiện phương pháp sinh con trai hoặc gái theo ý muốn... Từ kết quả này, ngành Y tế đã xây dựng giải pháp khống chế, khắc phục các yếu tố gây ra mất cân bằng giới tính khi sinh.

Nghiên cứu đã xây dựng, vận hành và đánh giá hiệu quả mô hình điểm về "Tư vấn và kiểm tra sức khoẻ tiền hôn nhân" tại huyện Tân Phú Đông. Qua mô hình, ngành Y tế đã quản lý và thực hiện tư vấn cho trên 25.000 lượt đối tượng là những thanh niên, vị thành niên và những người sắp kết hôn tham dự, qua đó đã cung cấp cho các đối tượng về những kiến thức cơ bản cũng như hướng dẫn cách thức phòng ngừa, phát hiện và cách xử lý các bệnh lý có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe khi kết hôn, các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, các nguy cơ sinh con bị bệnh, tật bẩm sinh, biết các nguy cơ, hậu quả và cách thức phòng tránh, xử lý các bệnh lý lây truyền qua đường tình dục, góp phần đảm bảo hôn nhân bền vững và nâng cao chất lượng giống nòi. Quá trình khám sức khỏe tiền hôn nhân và xét nghiệm cận lâm sàng cho các cặp vợ chồng, đã phát hiện nhiều trường hợp bệnh lý như viêm gan siêu vi B, nhiễm HIV và những vấn đề khác giúp hạn chế ảnh hưởng đến sức khỏe, hạnh phúc gia đình.

Nghiên cứu cũng đã triển khai thực hiện mô hình sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh tại các cơ sở y tế, qua đó, đã phát hiện ra được 37 trường hợp có gen bất thường (trong số 4.798 phụ nữ mang thai được sàng lọc trước sinh) để được tư vấn, xử trí tránh những trẻ sinh ra mắc bệnh tật bẩm sinh hoặc di truyền cũng như đã phát hiện 491 trường hợp thiếu men G6PD, 06 trường hợp suy giáp bẩm sinh (trong số 10.702 trường hợp được sàng lọc sơ sinh). Từ việc phát hiện và xử trí hợp lý các trường hợp có gen bất thường và các bệnh lý khi mới sinh, đã góp phần giảm chi phí 19 tỷ đồng đối với 37 trường hợp có gen bất thường, 491 trường hợp thiếu men G6PD, 06 trường hợp suy giáp bẩm sinh nêu trên.

Sau khi được nghiệm thu, đề tài nghiên cứu đã tiếp tục được triển khai thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh, đạt được nhiều kết quả, đóng góp quan trọng cho việc hoàn thành các chỉ tiêu về dân số - kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh, góp phần bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe người dân tỉnh nhà. Sở Y tế có Công văn số 4458/SYT-CCDS ngày 24/12/2015 về việc triển khai, ứng dụng Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh đến tất cả các cơ sở y tế trong tỉnh.

Đến cuối năm 2016, để từng bước khống chế tốc độ gia tăng mất cân bằng giới tính khi sinh, tỉnh đã tổ chức được 02 hội thảo, viết 07 bài báo (đăng trên Tờ tin Sức khỏe Tiền Giang, Cổng Thông tin điện tử của UBND tỉnh Tiền Giang và Cổng Thông tin điện tử Sở Y tế Tiền Giang) nhằm tuyên truyền quy định nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức; nghiêm cấm chẩn đoán giới tính thai nhi; nghiêm cấm loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính; nạo phá thai vì mục đích lựa chọn giới tính. Tổ chức 11 cuộc kiểm tra, thanh tra để dự phòng các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi tại các cơ sở y tế (nạo thai lựa chọn giới tính hoặc siêu âm chẩn đoán xác định giới tính thai nhi).

Tỷ số giới tính khi sinh được thống kê như sau:

Năm

Tỷ lệ giới tính khi sinh (trai/100 gái)

2013

110,7

2014

109,6

2015

109,7

2016

109,97

Như vậy, tỷ số giới tính khi sinh tại tỉnh đã từng bước được khống chế, dần ổn định, thấp hơn Kế hoạch thực hiện Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 - 2020 trên địa bàn tỉnh (113 bé trai/100 bé gái), thấp hơn chỉ tiêu Tổng cục Dân số Kế hoạch hóa gia đình giao hàng năm (tăng 0,4 điểm%/năm). Việc giảm mất cân bằng giới tính khi sinh góp phần ổn định xã hội, không gây xáo trộn tâm lý và mất trật tự do khi có tình trạng nam thừa, nữ thiếu.

 
Tiếp tục duy trì mô hình "Tư vấn và kiểm tra sức khoẻ tiền hôn nhân" tại 06 xã thuộc huyện Tân Phú Đông, trong năm 2016, đã khám kiểm tra sức khỏe cho hơn 200 đôi nam, nữ chuẩn bị kết hôn, qua đó, đã phát hiện và tư vấn cho 03 trường hợp bị viêm gan B, 12 trường hợp bệnh lây truyền qua đường tình dục và một số bệnh lý khác. Việc tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân giúp cho các cặp vợ chồng có những kiến thức cơ bản về cuộc sống gia đình; các quy định của Nhà nước về chính sách dân số  - kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ); phát hiện, xử trí các bệnh, tật có liên quan để bảo đảm tình trạng tình trạng sức khỏe của các cặp vợ chồng trước kết hôn; trang bị kiến thức về sức khỏe sinh sản - KHHGĐ khi kết hôn, mang thai, sinh con.

Về sàng lọc trước sinh và sơ sinh, các đơn vị trong tỉnh đã thực hiện sàng lọc trước sinh cho 8.143/22.930 thai phụ, tỷ lệ 35,51% (vượt chỉ tiêu được giao là 30%); qua đó, phát hiện 77 trường hợp nguy cơ cao (tỷ lệ 0,94%) chuyển tuyến trên (Bệnh viện Từ Dũ). Thực hiện sàng lọc sơ sinh cho 18.736/22.930 trẻ, đạt tỷ lệ 81,71% (vượt chỉ tiêu được giao là 50%); qua đó, đã phát hiện 179 trẻ thiếu men G6PD, 01 trẻ suy giáp bẩm sinh, đã tiến hành tư vấn và điều trị phù hợp.

Sàng lọc trước sinh và sơ sinh đã giúp phát hiện ra nhiều bệnh tật, giúp tư vấn xử lý sớm, hợp lý, làm giảm chi phí cho gia đình và gánh nặng cho xã hội trong việc nuôi dưỡng, điều trị những trẻ mắc các bệnh lý di truyền, dị tật bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ..., góp phần nâng cao chất lượng dân số ngay từ khi mới sinh.

Đánh giá về hiệu quả kinh tế của việc ứng dụng nghiên cứu cho thấy, trong năm 2016, dựa theo nghiên cứu của Bệnh viện Từ Dũ (Phạm Việt Thanh, Nguyễn Khắc Hân Hoan), thì chi phí các trường hợp bệnh lý như sau:

STT

Nội dung

Chi phí 1 trường hợp bệnh (đồng)

Số trường hợp phát hiện

Tổng chi phí (đồng)

Trẻ suy giáp bẩm sinh

1

Mất thu nhập lao động

720.000.000

01

720.000.000

2

Chi phí nuôi dưỡng

489.600.000

01

489.600.000

3

Chi phí chăm sóc khác

81.600.000

01

81.600.000

Cộng

1.291.200.000

 

1.291.200.000

Trẻ thiếu men G6PD

1

Chi phí y tế do các đợt tán huyết cấp ở cơ địa thiếu men G6PD

10.000.000

179

1.790.000.000

Tổng cộng

3.081.200.000

Rõ ràng, với chi phí xét nghiệm cho 01 trường hợp sàng lọc phát hiện ra thiếu men G6PD và suy giáp bẩm sinh là 190.000 đồng; qua đó, tư vấn xử lý hợp lý, sẽ tiết kiệm hơn rất nhiều nếu như không sàng lọc, gia đình và xã hội phải chịu chi phí 1.291.200.000 đồng cho 01 trường hợp suy giáp bẩm sinh hoặc 10.000.000 đồng cho 01 trường hợp thiếu men G6PD như tính toán ở trên. Như thế, qua sàng lọc trước sinh và sơ sinh, càng phát hiện ra nhiều trường hợp bệnh lý sẽ càng giúp tiết kiệm các chi phí nhiều hơn nữa, đồng nghĩa với hiệu quả kinh tế rất cao nếu tổ chức tốt hoạt động sàng lọc trước sinh và sơ sinh tại tất cả các cơ sở y tế có thể thực hiện được.

Ngoài ra, từ kết quả nghiên cứu và quá trình triển khai ứng dụng trên địa bàn tỉnh, Sở Y tế đã đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh nghiên cứu, trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 112/2015/NQ-HĐND ngày 17/7/2015 về chính sách và kinh phí hỗ trợ người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo thực hiện biện pháp tránh thai; sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 - 2020; qua đó, đã đầu tư kinh phí từ ngân sách của tỉnh để hỗ trợ kịp thời, cho người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo thực hiện biện pháp tránh thai; sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh, từng bước nâng cao chất lượng dân số.

BS CKII Trần Thanh Thảo

Thủ tục hành chính
Văn bản điện tử