Thời kỳ sơ sử đến nửa đầu thế kỷ XVII - Các di chỉ tiêu biểu
1. Di tích Gò Thành



Thuộc địa phận ấp Tân Thành, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, cách Thành phố Mỹ Tho khoảng 12 km về hướng đông - đông bắc được L.Malleret, một nhà nghiên cứu người Pháp phát hiện năm 1941(1)

Di tích nằm trên một gò đất sét pha cát, có chiều cao 3,00m so với mực nước biển. Diện tích rộng khoảng 10.000m2. Các năm 1988, 1989 và 1990, qua 2 đợt khai quật đã phát hiện 3 loại di chỉ khác nhau, gồm: di chỉ cư trú, di chỉ kiến trúc và di chỉ mộ táng.

Di chỉ cư trú

Ở độ sâu 1,50m - 3,00m tại gò và độ sâu 0,50m - 2,00m tại các thửa ruộng phía tây và tây nam gò, có rất nhiều mảnh gốm cổ thuộc loại hình Óc Eo với mật độ dày đặc, gồm gốm tô màu đỏ nhạt hoặc nâu, hoặc không tô màu, có hoa văn trang trí hoặc không hoa văn, một số vòi bình, nhiều di cốt bò, heo, xương cá, nhiều dấu vết than tro, vỏ trái cây cùng với một số cọc gỗ được gia công, một số chì lưới bằng đất nung có hình quả lê, dọi xe chỉ bằng gốm; nắp ấm nhỏ hình bánh xe, hình trái mận v.v… Phân tích bằng phóng xạ cácbon C14 một mẫu hiện vật có niên đại 1585± 80BP (tức thế kỷ IV sau Công Nguyên).

Di chỉ kiến trúc

Chủ yếu là kiến trúc gạch nằm ở giữa gò. Những nền gạch hầu như không còn nguyên vẹn. Có 3 nền gạch có dạng những “căn phòng” hình tứ giác, trong đó, có một kiến trúc có bình diện hình chữ nhật, hướng bắc - nam, có lối đi vào ở mạn Nam, bên trong có một tường gạch ngăn thành 2 phần bằng nhau, phần phía nam là một khối đá kiến trúc hình chữ nhật có chốt ở 2 đầu, có bệ thờ bằng đá đục lỗ ở giữa; ở phía bắc có dấu vết gạch vỡ xếp thành hình tròn, đường kính 0,90m ở độ sâu 1,00m - 1,50m (tính từ mặt đường móng).

Ngoài 3 kiến trúc có dạng căn phòng được nêu trên, còn có một kiến trúc giống như con đường có “lòng” và có “lề” và một kiến trúc có rãnh tựa như “đường thoát nước”.

Tại các kiến trúc gạch, còn phát hiện cột đá mang nhiều hoa văn trang trí, 6 diềm ngói tạc hình lá đề theo hình lòng máng của ngói ống. Lá đề đắp nổi hình Phật ngồi thiền. Một số gạch hình thang, một số gạch bị cắt khúc hoặc cắt góc; có kích cỡ khác nhau: 25,5cm x 14cm x 5,5cm; 24cm x 15cm x 6cm; 24cm x 14cm x 5,5cm.

Tại di chỉ và gần di tích còn phát hiện 1 tượng đá nam thần (mất đầu và chân), một tượng Visnu còn nguyên vẹn, 1 tượng Ganesa, tất cả đều bằng đá, một mảnh đá có minh văn Phạn ngữ (Sanskrit).

Các dấu vết kiến trúc và hiện vật được phát hiện cho thấy đây là những kiến trúc tôn giáo. Việc xác định các công trình kiến trúc (đền hoặc tháp) cùng các tính chất và chức năng của nó vẫn còn là ẩn số đối với các nhà nghiên cứu.

Di chỉ mộ táng: Qua 2 đợt khai quật đã phát hiện 12 mộ xây gạch, hình vuông, mỗi cạnh từ 1,80m - 2,00m, loại không có “gò nổi” và từ 2,00m - 3,00m, loại có “gò nổi” nằm theo hướng đông bắc và phân bố không đều trên mặt gò, trong đó có những ngôi mộ phần trên được ốp gạch để tạo thành “gò nổi” cao khoảng 0,60m, rộng từ 100m2 - 200m2, có những mộ phần trên không ốp gạch nên không tạo thành “gò nổi”.

Huyệt sâu từ 1,50m - 3,00m. Lòng huyệt được lấp bằng những lớp đá cuội, cát màu xám và gạch vỡ vụn. Có 3 mộ sát đáy huyệt được xây gạch hoặc xếp lên 4 khúc gỗ, bên trong có cát, tro và vàng lá hình vuông hoặc hình bông hoa nhiều cánh có chạm hình voi ở những tư thế khác nhau. Một ngôi mộ khác lại chôn hiện vật ở 4 góc huyệt.

Hiện vật tìm thấy tại di tích Gò Thành rất phong phú, với 196 hiện vật bằng vàng (nguyên và vỡ), trong đó có 111 hiện vật được chôn trong các ngôi mộ; 6 hiện vật bằng đồng, trong đó có 2 nhẫn, 1 xập xoã, 1 ống đồng nhỏ, 2 mảnh đồng hình thang; 22 hiện vật đá, (đáng kể là 1 pho tượng Visnu còn nguyên vẹn, một tượng nam thần chỉ còn phần thân, 1 tượng Ganesa,1 hạt đá quí màu tím xanh và trắng trong, 1 Yoni và 1 mảnh đá có minh văn Phạn ngữ); hàng ngàn hiện vật gốm, trong đó có một số vòi bình, 6 mảnh gốm có hình lá đề, số còn lại thì phần bị vỡ khó nhận dạng.

Qua hiện vật và 5 mẫu được phân tích bằng phóng xạ cácbon C14, bước đầu cho phép các nhà khoa học xác định vào khoảng từ thế kỷ IV - VIII sau Công Nguyên, người Phù Nam còn chịu ảnh hưởng nhiều của Hinđu giáo.(2)
 
2. Di tích Chùa Bà Kết

Được phát hiện năm 1988, qua một cuộc khảo sát khảo cổ học, thuôc địa phận xã Bình Phan, huyện Chợ Gạo.

Di tích nằm trên gò rộng khoảng 3.000m2, cao khoảng 5,00m so với mặt ruộng chung quanh. Giữa gò xuất lộ những vỉa gạch dạng Óc Eo. Tại đây có một miếu nhỏ được nhân dân thờ tượng Visnu và 2 bàn Visnu bằng đá.

3. Di tích Giồng Bà Phúc

Thuộc địa phận xã Song Bình, huyện Chợ Gạo. Nhiều dấu vết kiến trúc cổ đã lộ lên khỏi mặt đất. Tại đây, dân địa phương phát hiện 1 bình gốm Óc Eo còn nguyên vẹn.(3)

4. Di tích Trường Sơn A

Thuộc địa phận Ấp 1, xã Lương Hòa Lạc, huyện Chợ Gạo. Trong cuộc điều tra khảo cổ học năm 1988, đã tìm được 1 bình gốm, 1 tượng thần Ganesa và một số mảnh gốm vỡ. Đào thám sát chưa thấy có tầng văn hóa vào thời đại Óc Eo.

5. Di tích Gò chùa Bửu Tháp

Thuộc địa phận ấp Tân Phong, xã Tân Hội, huyện Cai Lậy, trên một gò đất rộng hơn 1.000m2, cao khoảng 0,50m so với mặt đất chung quanh. Hiện có 1 ngôi chùa nhỏ có tên là Bửu Tháp.

Theo nhân dân trong quá trình canh tác thường gặp những vỉa gạch lớn ở độ sâu 0,40m, loại gạch thường gặp trong các kiến trúc thời kỳ Óc Eo - hậu Óc Eo, và phát hiện 1 tượng nữ thần nhỏ bằng sa thạch màu xám xanh, bị mất đầu và tay chân, chỉ còn phần thân cao 10cm, thân tròn, ngực nở, mang đặc điểm tượng thời hậu Óc Eo.

6. Di tích Đìa Tháp

Thuộc địa phận ấp 4, xã Mỹ Thành Bắc, huyện Cai Lậy, trong vùng trũng của Đồng Tháp Mười. Thế đất tại di tích cao hơn vùng trũng chung quanh từ 0,30m - 0,40m. Hiện có 1 ngôi chùa mới dựng, gọi là chùa Trường Tháp. Quanh chùa có nhiều gạch nguyên và vỡ, màu đỏ nhạt hoặc xám đỏ. Gạch cổ được chất thành đống hoặc lát đường đi. Số gạch này được xáng (tàu cuốc) múc từ lòng Đìa tháp gần đó, ở độ sâu 0,60m, trên chiều dài 1km dọc theo bờ kinh. Cùng với gạch có số lượng lớn, còn có nhiều mảnh gốm thuộc loại hình Óc Eo nằm rải rác, 1 Linga, 1 Pesani, một phần bệ thờ và 3 đoạn cột đá kiến trúc.

Các hiện vật bằng đá được lưu giữ tại nhà truyền thống huyện Cai Lậy, có đặc điểm tương tự những di vật cùng loại ở các di tích Đá Nổi (Kiên Giang), Ba Thê (An Giang), có niên đại từ thế kỷ VI -VII sau Công Nguyên.

7. Di tích Gò Tân Hiệp

Thuộc địa phận thị trấn Tân Hiệp, huyện Châu Thành (nay thuộc khu làm việc của Huyện uỷ) phân bố trên một gò cao khoảng 5-7m so với chung quanh, diện tích khoảng 3.000m2.
 
Đây là di tích kiến trúc có qui mô được xem là lớn nhất ở Tiền Giang. Gò nhân tạo này được bó nền (bọc nền) bằng gạch có hình vuông với chiều cao khoảng 4,00m. Gạch bó nền có kích thước giống gạch tại di tích Gò Thành (Chợ Gạo). Hiện nay còn 1 tảng đá lớn rộng khoảng 1,50m2 nằm bên ngoài thành gạch cũ.

Trên mặt gò, các kiến trúc đã bị sụp đổ. Thực dân Pháp sử dụng độ cao của gò để xây đồn bót. Thời Mỹ xâm lược cũng xây dựng các công trình phục vụ quân sự tại đây. Nay thành gạch không còn vết tích cũ. Qua khảo sát, có thể đoán định di tích là kiến trúc trung tâm có liên quan đến tôn giáo vào thời kỳ Óc Eo muộn (thế kỷ thứ VII-XIII).

8. Di tích Gò Gạch

Thuộc địa phận xã Tân Lý Tây, huyện Châu Thành, nằm trên một gò cao của giồng Tân Hiệp, có diện tích khoảng 1.000 m2. Hiện một ngôi chùa có tên Kim Thạch Bửu Tự được xây cất khá lâu trên di tích. Tại đây, vẫn còn những nền gạch lộ trên mặt đất. Nhiều viên gạch của kiến trúc cổ đã được mang đi lát đường hoặc xây nền chùa.

Trong sân chùa còn nhiều đá cuội, một số tảng đá bị vỡ, nhiều mảnh tượng và bệ tượng vỡ. Nhiều khả năng di tích là kiến trúc tôn giáo vào thời kỳ Óc Eo muộn.
 
9. Di tích Gò Sau

Thuộc địa phận ấp Tân Phú, xã Tân Lý Tây, huyện Châu Thành, nằm trong khu vực đình Tân Lý Tây, phía trước Uỷ ban Nhân dân xã. Di tích xuất lộ nhiều nền gạch gần đình và các vỉa gạch nằm ở độ sâu 1,00m cách đình 20,00m về phía tây nam. Đã phát hiện 1 tượng Visnu bán tròn, 1 rìu đá, một số mảnh vỡ của bình cổ, 1 bàn nghiền bị vỡ. Khảo sát các loại gạch cho thấy nhiều khả năng di tích ở vào thời kỳ Óc Eo muộn.

10. Di tích Thân Hòa

Thuộc địa phận ấp Thân Hòa, xã Thân Cửu Nghĩa, huyện Châu Thành, thuộc giồng Tân Hiệp, trên diện tích rộng hàng chục ngàn mét vuông. Tầng văn hóa cổ có độ sâu từ 1,00m - 2,50m tập trung ở chùa Cầu Kè - một gò nổi cao hơn trên giồng cát pha sét ở Thân Hòa.

Nhiều vỉa gạch xuất lộ trên đường đi cũng như sân, vườn của các gia đình trong ấp. Đã phát hiện một số rìu đá, 1 chì lưới bằng đất nung, 1 núm đậy lớn khá lạ mắt, một số đá cuội; nhiều gạch thuộc văn hóa Óc Eo được người địa phương đem lót đường hoặc xây nhà. Trong một lần dùng xáng đào kinh, đã phát hiện nhiều mảnh gốm tô màu và không tô màu, nhiều bàn nghiền bằng đá, chày đá và vòi bình. Tại chùa Cầu Kè hiện có một tảng đá lớn có lỗ ở giữa được sử dụng làm đá thờ.Đây là di tích được phân bố trên diện tích rộng, cần tiếp tục khảo sát, khai quật và nghiên cứu. Bước đầu, qua hiện vật bằng đá và gốm cùng các loại gạch cho thấy có nhiều khả năng di tích ở vào thời kỳ Óc Eo muộn.

 --------------------------------------------------------------------------------

(1) L. Malleret. ADM, 1963, tập 4, tr. 54.

(2) Lê Thị Liên: Về vật liệu lợp mái của kiến trúc trong văn hóa Óc Eo - Một số vấn đề của khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam- Nxb KHXH-Hà nội 1997- tr 442. 

(3) Theo Đào Linh Côn- 1988, di tích này có thể thuộc thời kỳ muộn của văn hóa Óc Eo.

 

Thủ tục hành chính
Văn bản điện tử