Truy cập nội dung luôn
 
                                                     English Facebook RSS Hỏi đápSơ đồ cổng

Chi tiết tin

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang tháng 7 năm 2019
06/08/2019

I. KINH TẾ

1. Sản xuất nông nghiệp và thủy sản

a. Nông nghiệp

Cây lương thực có hạt: trong tháng gieo trồng 9.567 ha, thu hoạch 390 ha với sản lượng 1.404 tấn; ước tính đến cuối tháng 7/2019, gieo trồng được 160.635 ha, đạt 81,5% kế hoạch, giảm 9% so cùng kỳ, sản lượng thu hoạch 674.285 tấn, đạt 56,9% kế hoạch, giảm 10,8% so cùng kỳ.

- Cây lúa: trong tháng gieo sạ 9.213 ha. Ước đến cuối tháng 7/2019, gieo sạ 157.326 ha, đạt 81,8% kế hoạch, giảm 9% so cùng kỳ; thu hoạch 97.843 ha với sản lượng 665.038 tấn, đạt 56,9% kế hoạch.

* Vụ Hè Thu (gồm Xuân Hè và Hè Thu): trong tháng gieo sạ 9.213 ha; sơ bộ gieo sạ 92.466 ha, đạt 92% kế hoạch sản xuất của vụ, so cùng kỳ giảm 11,2% do chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Trong đó vụ Xuân Hè chính thức xuống giống và thu hoạch 32.983 ha với sản lượng 198.413 tấn. Diện tích còn lại là lúa Hè Thu, trà lúa đang giai đoạn đẻ nhánh, đứng cái - làm đồng, trổ. Theo Chi Cục trồng trọt và bảo vệ thực vật tỉnh, đến thời điểm này, lúa Xuân Hè trên địa bàn tỉnh sinh trưởng và phát triển tốt. Tuy nhiên, do đang trong giai đoạn mưa nhiều về đêm nên nông dân cần quan tâm chủ động phòng trừ một số loại sâu bệnh và dịch hại như rầy nâu muỗi hành, sâu cuốn lá… nhằm đạt năng suất theo kế hoạch đề ra.

Dịch bệnh trên cây lúa: rầy nâu, bệnh cháy lá có tăng so với tháng trước, riêng sâu cuốn lá giảm; có 650 ha lúa có rầy nâu, tăng 76 ha, rầy tập trung giai đoạn tuổi 1 đến tuổi 4, mật số trung bình 100 - 300 con/m2; 1.267 ha lúa có bệnh cháy lá, tăng 927 ha, tỷ lệ 1 - 3% và 223 ha lúa có sâu cuốn lá, giảm 91 ha, mật độ 1 - 2 con/m2.

- Cây ngô: trong tháng gieo trồng 354 ha, thu hoạch 390 ha với sản lượng 1.404 tấn. Bảy tháng gieo trồng 3.309 ha, đạt 71% kế hoạch, giảm 11,3% so cùng kỳ; thu hoạch 2.569 ha, năng suất quy thóc 36 tạ/ha với sản lượng quy thóc 9.247 tấn, đạt 53,8% kế hoạch, giảm 5,4% so cùng kỳ chủ yếu do diện tích gieo trồng giảm.

Cây rau đậu các loại: trong tháng gieo trồng 5.467 ha, thu hoạch 4.369 ha với sản lượng 84.190 tấn; bảy tháng gieo trồng 49.265 ha, đạt 85,3% kế hoạch, tăng 7,3% so cùng kỳ; thu hoạch 42.282 ha với sản lượng 812.239 tấn, đạt 71,5% kế hoạch, tăng 7,1% so cùng kỳ do nông dân tăng cường ứng dụng khoa học - kỹ thuật, mở rộng quy mô trồng rau trong nhà lưới nhằm kiểm soát được sâu bệnh làm cho năng suất tăng, (trong đó: rau các loại 49.049 ha, thu hoạch 42.103 ha với sản lượng 811.697 tấn).

Chăn nuôi: ước thời điểm 01/6/2019 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 120 ngàn con, giảm 0,2%; đàn lợn 477 ngàn con, giảm 18,8%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 14 triệu con, tăng 9,1% so cùng kỳ.

b. Lâm nghiệp:

Trồng cây phân tán: trong tháng trồng mới 317,2 ngàn cây; ước đến hết tháng 7/2019, thực hiện trồng mới được 394,7 ngàn cây phân tán các loại, giảm 30,3% so cùng kỳ. Các loại cây chủ yếu được trồng là tràm bông vàng, bạch đàn và cây khác trồng trên các bờ ao, ven sông và cặp theo tuyến kênh.

Tổng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh hiện có 1.971 ha (không gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng); gồm: diện tích rừng phòng hộ 1.298 ha và rừng sản xuất 673 ha; giao khoán quản lý bảo vệ rừng phòng hộ ven biển năm 2019 với diện tích giao khoán là 1.000 ha. Trong tháng không xảy ra cháy rừng.

c. Thủy hải sản:

Diện tích thủy sản các loại trong tháng thả nuôi 3.510 ha, 7 tháng thả nuôi 12.921 ha, đạt 80,9% kế hoạch và giảm 0,5% so cùng kỳ. Thủy sản nước ngọt nuôi 4.789 ha, giảm 7,7% so cùng kỳ do các hộ nuôi nhỏ lẻ mang tính chất cải thiện đời sống gia đình bỏ trống ao nuôi và diện tích nuôi trong ao vườn cây ăn quả bị ảnh hưởng thuốc trừ sâu nên không tiến hành thả nuôi. Thủy sản nước mặn, lợ nuôi được 8.132 ha, tăng 4,2% so cùng kỳ, chủ yếu là tăng diện tích nuôi nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng ở 2 huyện Gò Công Đông và Tân Phú Đông.

Sản lượng thủy sản trong tháng ước tính thu hoạch 28.700 tấn, 7 tháng thu hoạch 186.817 tấn, đạt 64,9% kế hoạch, tăng 10,7% so cùng kỳ. Trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 115.903 tấn, đạt 69% kế hoạch, tăng 6,5% so cùng kỳ; sản lượng khai thác 70.914 tấn, đạt 59,1% kế hoạch, tăng 18,2% so cùng kỳ (trong đó: khai thác biển 67.741 tấn, tăng 19,2% so cùng kỳ do thời tiết thuận lợi cho việc khai thác).

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2019 giảm 2,1% so với tháng trước (trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,3%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,7%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,4%) và tăng 12% so cùng kỳ (trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,3%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,3%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 23,4%). Tính chung 7 tháng đầu năm 2019 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,3% so cùng kỳ, bao gồm: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,4%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,8%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 21,4%.

* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:

- Chỉ số tiêu thụ tháng 7/2019 so tháng trước giảm 2,4% và giảm 8,4% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 7 năm 2019 tăng 4,8% so cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 1,7%; sản xuất đồ uống tăng 29,6%; dệt tăng 5,7%; sản xuất trang phục tăng 51,3%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 6,8%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 1,2%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic tăng 8,1%; sản xuất kim loại tăng 14,3%; sản xuất thiết bị điện tăng 8,1%... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: sản xuất da giảm 13,3%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 0,2%...

- Chỉ số tồn kho tháng 7/2019 so tháng trước tăng 16% và so cùng kỳ tăng 19,6%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so cùng kỳ là: sản xuất đồ uống tăng 89,6%; dệt tăng 190,3%; sản xuất trang phục tăng 48,1%; sản xuất da tăng 73%; sản xuất kim loại tăng 75,4%; sản xuất thiết bị điện tăng 80,7%... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 7,5%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 18,7%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 7,2%; công nghiệp chế biến chế tạo khác giảm 86,4%...

3. Đầu tư - Xây dựng

Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng 288,5 tỷ đồng, tăng 6% so cùng kỳ. Bảy tháng thực hiện 1.321,6 tỷ đồng, đạt 41% kế hoạch, tăng 12,9% so cùng kỳ.

Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 1.031,9 tỷ đồng, đạt 39,5% kế hoạch, tăng 12,1% so cùng kỳ, chiếm 78,1% trong tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 193 tỷ đồng, tăng 14,5%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 492 tỷ đồng, tăng 16,6%... Đến cuối tháng 6, có khoảng 105/598 công trình thi công hoàn thành (trong đó: cấp tỉnh có 45/149 công trình hoàn thành). Trong tháng 7, tiếp tục theo dõi, đôn đốc công tác giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ thi công 21 dự án, 4 dự án khởi công mới, 19 dự án chuẩn bị đầu tư .

Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 206,9 tỷ đồng, đạt 52,5% kế hoạch, tăng 16,4% so cùng kỳ, chiếm 15,7% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 79 tỷ đồng, tăng 21,2% so cùng kỳ. Hiện nay nguồn vốn huy động cấp huyện gặp rất nhiều khó khăn các dự án thực hiện chủ yếu nguồn vốn ngân sách tỉnh phân cấp, các huyện tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình chuyển tiếp.

Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 82,8 tỷ đồng, đạt 38,4% kế hoạch, tăng 15,7% so cùng kỳ, chiếm 6,2% tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 62 tỷ đồng, tăng 20,6% so cùng kỳ... Các công trình do Ban quản lý công trình xã làm chủ đầu tư thực hiện chủ yếu từ nguồn vốn phân cấp để thực hiện các công trình giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng phục vụ địa phương.

4. Thương mại - Giá cả - Dịch vụ

a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:

Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 5.202,3 tỷ đồng, giảm 0,7% so tháng trước và tăng 9,1% so cùng kỳ; trong đó: tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa 4.152,2 tỷ đồng, tăng 1% so tháng trước và tăng 11,2% so cùng kỳ. Bảy tháng đầu năm 2019, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 35.258,9 tỷ đồng, đạt 56,9% kế hoạch, tăng 8,3% so cùng kỳ; trong đó: tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa 27.869,5 tỷ đồng, tăng 8% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 27.869,5 tỷ đồng, tăng 8%; lưu trú 81,2 tỷ đồng, tăng 7,2%; ăn uống 3.716,8 tỷ đồng, tăng 9,8%; du lịch lữ hành 70 tỷ đồng, tăng 13,6%; dịch vụ 3.521,3 tỷ đồng, tăng 9,3% so cùng kỳ.

b. Xuất - Nhập khẩu:

Xuất khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng thực hiện 258,8 triệu USD, tăng 4% so tháng trước; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 54,7 triệu USD, tăng 12,6%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 203 triệu USD, tăng 1,5% so tháng trước. Bảy tháng xuất khẩu 1.702,5 triệu USD, đạt 56,8% kế hoạch, tăng 21,5% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 14,8 triệu USD, giảm 78,9%; kinh tế ngoài nhà nước 415,7 triệu USD, tăng 21,6%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1.272 triệu USD, tăng 28,6% so cùng kỳ.

Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:

- Thủy sản: ước tính tháng 7/2019 xuất 8.815 tấn, tăng 6,8% so tháng trước với trị giá đạt 28,1 triệu USD, tăng 20,6% so tháng trước. Bảy tháng xuất 70.561 tấn, tăng 7,8% so cùng kỳ, về trị giá đạt 207,6 triệu USD, tăng 19,1% so cùng kỳ. Hiện tại, các nhà máy thu mua cá tra giá còn khoảng 19-20 ngàn đồng/kg, thấp nhất trong khoảng 10 năm qua; với giá này người nuôi thua lỗ từ 3-5 ngàn đồng/kg. Theo Hiệp hội Cá tra Việt Nam, sau 2 năm 2017 và 2018, giá cá tra duy trì ở mức cao, trong đó năm 2018 có thời điểm cá tra nguyên liệu “sốt”, giá cá lên đến 35-37 ngàn đồng/kg và người nuôi thắng đậm. Thế nên năm 2019 người dân ồ ạt nuôi cá, làm cho sản lượng tăng cao. Thị trường xuất khẩu truyền thống là Mỹ và Trung Quốc giảm liên tục. Ngoài ra chiến tranh thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ gây ảnh hưởng, rào cản kỹ thuật ở một số nước gây khó cho xuất khẩu cá tra…

- Gạo: ước tính tháng 7/2019 xuất 11.424 tấn, tăng 23,5% so tháng trước với giá trị đạt 5,7 triệu USD, tăng 23,1% so tháng trước. Bảy tháng xuất 64.891 tấn, giảm 63,9% so cùng kỳ, về trị giá đạt 31,7 triệu USD, giảm 67,5% so cùng kỳ. Thị trường xuất khẩu trong các tháng qua tiếp tục trầm lắng chủ yếu do chất lượng gạo không cạnh tranh được với một số nước xuất khẩu lớn như Thái Lan, Ấn Độ và một số nước mới nổi như Campuchia, Myanmar và Pakistan. Nên Trung Quốc là thị trường xuất khẩu gạo lớn của Việt Nam đã mở cửa cho gạo từ Ấn Độ, Campuchia, Myanmar; đồng thời Trung Quốc đề nghị Việt Nam thống kê lại năng lực sản xuất của doanh nghiệp xuất khẩu gạo được Trung Quốc đồng ý ký kết.

- May mặc: ước tính tháng 7/2019 xuất 1.754 ngàn sản phẩm, tăng 5,1% so tháng trước với giá trị xuất đạt 65,4 triệu USD, tăng 7,1% so tháng trước. Bảy tháng xuất 37.734 ngàn sản phẩm, giảm 9% so cùng kỳ, về giá trị đạt 326,9 triệu USD, tăng 27,4% so cùng kỳ. Khi các hiệp định thương mại tự do (FTA) mới có hiệu lực như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)... dòng thuế suất bằng 0% sẽ giúp ngành dệt may Việt Nam mở rộng thị phần tại một số nước đang có thuế suất cao như Canada, New Zealand, Australia...

Nhập khẩu:

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng 7/2019 đạt 176,2 triệu USD, tăng 0,2% so tháng trước. Bảy tháng, kim ngạch nhập khẩu 1.050,6 triệu USD, đạt 58,4% kế hoạch, tăng 26,2% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước nhập 74,5 triệu USD, giảm 2%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhập 976,1 triệu USD, tăng 29,1% so cùng kỳ. Một số mặt hàng nhập khẩu tăng so cùng kỳ như: nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 287,4 triệu USD, tăng 19,9%; sản phẩm từ sắt, thép 1,5 triệu USD, tăng 9,7%; bông các loại 38,7 triệu USD, tăng 151,7%; chất dẻo nguyên liệu 43,4 triệu USD, tăng 273%...

c. Chỉ số giá:

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2019 tăng 0,13% so tháng 6/2019 (thành thị giảm 0,19%, nông thôn giảm 0,12%), so cùng kỳ năm trước tăng 2,61%, so tháng 12 năm 2018 tăng 1,56%.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 8 nhóm hàng chỉ số giá tăng so tháng trước: tăng cao nhất là nhóm hàng hóa dịch vụ khác tăng 1,4%; kế đến là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,32%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,11%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,1%... Có 2 nhóm hàng chỉ số giá giảm là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,33%; bưu chính viễn thông giảm 0,03%. Riêng nhóm đồ uống và thuốc lá chỉ số giá ổn định.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2019 tăng so tháng 6/2019 do:

- Giá thịt bò tăng 0,4% sau một thời gian dài thua lỗ, nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, trang trại phải bỏ chuồng nên nguồn cung sản phẩm thịt bò trên thị trường giảm, dẫn đến giá thịt bò tăng nhẹ; cùng với đó giá trứng gia cầm các loại tăng 1,17% vì nhu cầu thu mua trứng gia cầm của các cơ sở chế biến bánh trung thu, dẫn đến giá tăng.

- Thời tiết mưa nhiều ảnh hưởng đến sinh trưởng cây trồng, tác động đến năng suất thu hoạch thấp làm cho nhiều loại rau xanh giá bán lẻ tăng 1,85%, giá quả tươi và chế biến tăng 1,62%.

- Giá xăng dầu tăng 0,01% so với tháng trước do ảnh hưởng của 02 đợt tăng giá ngày 02/7/2019 và 17/7/2019, tính chung xăng A95 tăng 1.100 đồng/lít, xăng sinh học E5 tăng 1.040 đồng/lít, dầu Diezen 0,05S tăng 340 đồng/lít.

- Từ 01/7/2019 mức lương cơ bản của cán bộ, công nhân viên chức nhà nước được điều chỉnh tăng từ 1.390.000 lên 1.490.000 đồng/tháng, dẫn đến mức đóng BHYT của công chức nhà nước và người lao động tự do tăng 7,19% so tháng trước, góp phần làm tăng CPI chung khoảng 0,03%.

Bên cạnh đó, có một số mặt hàng chỉ số giá giảm nhưng tỷ trọng quyền số nhỏ nên tác động chưa đủ lớn đến chỉ số giá tiêu dùng chung như:

- Đang bước vào thu hoạch lúa vụ Xuân Hè, sản lượng lúa dồi dào làm cho giá gạo giảm 0,03%  .

- Giá thịt lợn giảm 0,3% do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi kéo dài.

- Giá nước sinh hoạt giảm 0,13%, do thời tiết có mưa nhiều, nên người dân sử dụng nước sinh hoạt giảm, dẫn đến đơn giá nước sinh hoạt bình quân trong tháng giảm.

- Giá gas trong tháng 7/2019 giảm 6,82% so với tháng 6/2019 do giá gas trong nước điều chỉnh giảm 19.000 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới, góp phần giảm CPI chung 0,05%.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 7 tháng năm 2019 so cùng kỳ tăng 2,71%; một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng nhiều trong 7 tháng năm 2019 so cùng kỳ như: nhóm giáo dục tăng 5,59%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,29%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,68%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,70%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,73%...

Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 7/2019 tăng 4,87% so tháng trước; giá bình quân tháng 7/2019 là 3.881 ngàn đồng/chỉ, tăng 350 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ.

Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 7/2019 giảm 0,53% so tháng trước, giá bình quân 23.316 đồng/USD, tăng 288 đồng/USD so cùng kỳ.

d. Du lịch:

Trong tháng, khách du lịch đến được 163 ngàn lượt khách, giảm 5,3% so tháng trước (do thời tiết vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Tiền Giang nói riêng từ đầu tháng 7 đến nay đã xuất hiện mưa nhiều nên lượng khách du lịch giảm) và tăng 7,4% so cùng kỳ; trong đó: khách du lịch quốc tế 51,6 ngàn lượt khách, giảm 6,3% so tháng trước và tăng 5,4% so cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng đạt 1.050 tỷ đồng, giảm 7% so tháng trước và tăng 1,7% so cùng kỳ.

Tính chung bảy tháng đầu năm 2019, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 1.170,8 ngàn lượt khách, đạt 55,8% kế hoạch, tăng 6% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 371,6 ngàn lượt khách, đạt 44,2% kế hoạch, tăng 0,8% so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác đạt 7.389 tỷ đồng, tăng 9,5% so cùng kỳ. Phân theo nhóm ngành hàng: doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 3.798 tỷ đồng, chiếm tỉ trọng 51,9%, tăng 9,7%, du lịch lữ hành 70 tỷ đồng, tăng 13,6% so cùng kỳ dịch vụ tiêu dùng khác 3.521 tỷ đồng, tăng 9,3% so cùng kỳ.

e. Vận tải:

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 208,2 tỷ đồng, tăng 1,7% so tháng trước. Bảy tháng thực hiện 1.439,5 tỷ đồng, tăng 9,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 443 tỷ đồng, tăng 8,3%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 888,6 tỷ đồng, tăng 11,2%. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 791,6 tỷ đồng, tăng 7,1%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 540 tỷ đồng, tăng 15,2%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 107,9 tỷ đồng, giảm 2,9% so cùng kỳ.

Vận chuyển hành khách trong tháng đạt 3.475 ngàn hành khách, tăng 2% so tháng trước, tăng 39% so cùng kỳ; luân chuyển 68.073 ngàn hành khách.km, tăng 3,2% so tháng trước, tăng 4% so cùng kỳ. Bảy tháng, vận chuyển 20.384 ngàn hành khách, tăng 13,2% so cùng kỳ; luân chuyển 668.849 ngàn hành khách.km, giảm 6,8% so cùng kỳ. Trong đó: vận chuyển đường bộ 11.774 ngàn hành khách, giảm 0,8% và luân chuyển 651.621 ngàn hành khách.km, giảm 7,8% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 8.610 ngàn hành khách, tăng 40,1% và luân chuyển 17.228 ngàn hành khách.km, tăng 55,2% so cùng kỳ.

Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 1.160 ngàn tấn, tăng 1,1% so tháng trước, giảm 4,3% so cùng kỳ; luân chuyển 157.941 ngàn tấn.km, tăng 1,2% so tháng trước, tăng 12,1% so cùng kỳ. Bảy tháng, vận tải 9.593 ngàn tấn hàng hóa, tăng 2% so cùng kỳ; luân chuyển 1.113.692 ngàn tấn.km, tăng 13,7% so cùng kỳ. Trong đó: vận tải đường bộ 2.660 ngàn tấn, giảm 7,2% và luân chuyển 268.883 ngàn tấn.km, tăng 14,7% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 6.933 ngàn tấn, tăng 6% và luân chuyển 844.809 ngàn tấn.km, tăng 13,3% so cùng kỳ.

f. Bưu chính viễn thông:

Doanh thu trong tháng đạt 234 tỷ đồng, tăng 0,1% so tháng trước; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 17 tỷ đồng, tăng 0,2% và viễn thông 217 tỷ đồng, tăng 0,1% so tháng trước. Bảy tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 1.616,3 tỷ đồng, tăng 13,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 114,3 tỷ đồng, tăng 61,3% và viễn thông 1.502 tỷ đồng, tăng 11,4% so cùng kỳ.

Thuê bao điện thoại phát triển mới trong tháng giảm 383 thuê bao; trong đó: thuê bao cố định giảm 438 thuê bao. Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 7/2019 là 110.987 thuê bao, mật độ bình quân đạt 6,3 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao internet trong tháng phát triển mới 7.124 thuê bao, trong đó: ADSL giảm 67 thuê bao và FTTH tăng 7.191 thuê bao; 7 tháng đầu năm 2019 thuê bao Internet phát triển mới 28.296 thuê bao, trong đó: ADSL giảm 1.211 thuê bao và FTTH tăng 29.507 thuê bao; thuê bao internet có trên mạng đến cuối tháng 7/2019 là 207.104 thuê bao, mật độ internet bình quân đạt 11,7 thuê bao/100 dân.

5. Tài chính - Ngân hàng

a. Tài chính:

Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 931 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 780 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 310 tỷ đồng. Bảy tháng, thu 9.964 tỷ đồng, đạt 78,8% kế hoạch, tăng 23,6% so cùng kỳ; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 6.537 tỷ đồng, đạt 70,2% dự toán và tăng 29,3% so cùng kỳ; thu nội địa 6.362 tỷ đồng, đạt 71,3% dự toán, tăng 31,3% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.351 tỷ đồng, đạt 86,6% dự toán, tăng 76,8% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 761 tỷ đồng, đạt 59% dự toán, tăng 15,9% so cùng kỳ; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 1.010 tỷ đồng, đạt 61,2% dự toán, giảm 15,8% so cùng kỳ...).

Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 975 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 320 tỷ đồng. Bảy tháng, chi 6.194 tỷ đồng, đạt 54,4% dự toán, tăng 21,9% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.838 tỷ đồng, đạt 47,8% dự toán, tăng 61,3% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 3.333 tỷ đồng, đạt 53,3% dự toán và tăng 6,9% so cùng kỳ.

b. Ngân hàng:

Trong tháng 6, giá vàng trong nước liên tục tăng cao và cao nhất trong 6 năm gần đây kéo theo xu hướng mua vàng dự trữ, xu hướng chuyển vốn sang đầu tư bất động sản cũng giảm nhiệt. Bên cạnh đó, mặt bằng lãi suất được duy trì ổn định nên tiền gửi ngân hàng vẫn là một kênh đầu tư an toàn của người dân. Công tác huy động vốn tương đối thuận lợi, vốn huy động tăng cao so với tháng trước. Ước đến cuối tháng 7/2019, nguồn vốn huy động trên địa bàn đạt 66.521 tỷ đồng, tăng 928 tỷ đồng và tăng 1,4% so với cuối tháng 6/2019, so với cùng kỳ tăng 7.797 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 13,3%.

Hoạt động tín dụng ngân hàng trong tháng tiếp tục ổn định và tăng trưởng. Ước đến cuối tháng 7/2019 tổng dư nợ cho vay toàn tỉnh sẽ đạt 52.903 tỷ đồng, tăng 690 tỷ đồng so cuối tháng 6/2019, tỷ lệ tăng 1,3%, so với cùng kỳ tăng 7.344 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 16,1%. Trong đó: thực hiện chính sách tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP và Nghị định số 116/2018/NĐ-CP của Chính phủ, đến cuối tháng 6/2019, dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn ở tất cả các tổ chức tín dụng là 26.591 tỷ đồng, chiếm 50,9% tổng dư nợ cho vay, tăng 4.725 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 21,6% so đầu năm 2019.

6. Khoa học công nghệ

Tháng 7/2019, Hội đồng tư vấn tuyển chọn, đã thẩm định nội dung đánh giá hồ sơ tuyển chọn, giao trực tiếp thực hiện 02 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (1 cấp tỉnh: Đề tài Lịch sử kiểm tra đảng của Đảng bộ tỉnh Tiền Giang, 1 cấp cơ sở: Nghiên cứu xây dựng mô hình vườn thanh long kiểu mẫu ứng dụng công nghệ cao tại xã Kiểng Phước, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Nghiệm thu kết thúc 4 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (2 nhiệm vụ cấp tỉnh: Đề tài đánh giá trình độ công nghệ doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, đề xuất giải pháp và chính sách đổi mới công nghệ; đề tài Xây dựng khung năng lực cho công chức lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện thuộc tỉnh Tiền Giang, 2 nhiệm vụ cấp cơ sở: Đề tài Tạo lập quản lý và quảng bá nhãn hiệu tập thể “sả Tân Phú Đông” cho cây sả huyện Tân Phú Đông của tỉnh Tiền Giang; đề tài Tạo lập quản lý và quảng bá nhãn hiệu tập thể “sầu riêng Cai Lậy” cho quả sầu riêng huyện Cai Lậy của tỉnh Tiền Giang). Đến tháng 7/2019, Hội đồng tư vấn tuyển chọn, giao trực tiếp thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã đánh giá hồ sơ tuyển chọn, giao trực tiếp thực hiện 6 nhiệm vụ cấp tỉnh, 6 nhiệm vụ cấp cơ sở; kiểm tra tiến độ, nghiệm thu giai đoạn 13 nhiệm vụ cấp tỉnh, 7 nhiệm vụ cấp cơ sở; nghiệm thu kết thúc 2 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh, 5 nhiệm vụ cấp cơ sở.

II. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động việc làm:

Trong tháng đã tư vấn việc làm cho 3.269 lượt lao động, trong đó: tư vấn nghề cho 83 lượt lao động, tư vấn việc làm 738 lượt lao động, tư vấn việc làm cho lao động thất nghiệp 2.281 lượt lao động, tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 167 lao động; giới thiệu việc làm cho 381 lượt lao động; có 209 lượt lao động có được việc làm ổn định; có 2 lao động xuất cảnh chính thức; có 2.319 người đăng ký thất nghiệp và giải quyết hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 2.148 người với tổng số tiền chi trả tương đương 28.612 triệu đồng.

Từ đầu năm đến nay đã tư vấn việc làm cho 13.503 lượt lao động, trong đó: tư vấn nghề cho 601 lượt lao động, tư vấn việc làm 2.994 lượt lao động, tư vấn việc làm cho lao động thất nghiệp 9.216 lượt lao động, tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác 692 lao động; giới thiệu việc làm cho 1.192 lượt lao động; có 655 lượt lao động có được việc làm ổn định; có 162 lao động xuất cảnh: sang Nhật Bản 127 lao động, Đài Loan 32 lao động, Hàn Quốc 2 lao động và Ả Rập 1 lao động; có 9.082 người đăng ký thất nghiệp và giải quyết cho 7.963 người hưởng trợ cấp thất nghiệp với số tiền chi trả tương đương 109.035 triệu đồng.

2. Chính sách xã hội:

Trong tháng vận động quỹ đền ơn đáp nghĩa được 1.765 triệu đồng, xây dựng mới 15 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 440 triệu đồng, sửa chữa 14 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 280 triệu đồng. Bảy tháng vận động quỹ đền ơn đáp nghĩa được 7.022 triệu đồng, đạt 70,2% kế hoạch, xây dựng mới 78 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 1.840 triệu đồng, đạt 60% kế hoạch, sửa chữa 39 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 780 triệu đồng, đạt 111,4% kế hoạch.

Thực hiện tốt các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, các chính sách đối với gia đình người có công với cách mạng: Tổ chức 12 đoàn đi thăm tặng quà gia đình chính sách nhân ngày thương binh, liệt sĩ 27/7/2019, số lượng 100 hộ chính sách với số tiền 2 triệu đồng/hộ, thời gian dự kiến từ ngày 15/7/2019 - 24/7/2019; tổ chức đưa 06 thương binh đi dự gặp mặt tuyên dương thương binh nặng tiêu biểu toàn quốc năm 2019 tại Hà Nội, thời gian đi từ ngày 23-26/7/2019.

Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em luôn được quan tâm với nhiều hoạt động như tổ chức Lễ phát động “Tháng hành động vì trẻ em từ 01/6 -30/6/2019” với chủ đề “Chung tay vì trẻ em nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số” cho các sở, ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh và các huyện, thành, thị, có gần 200 đại biểu tham dự; trong đó có 160 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhận học bổng và xe đạp. Phối hợp Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức trại hè “Ước mơ hồng” tại tỉnh Tiền Giang năm 2019 cho 150 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tham dự, đồng thời tổ chức cho các em du khảo về nguồn tham quan di tích lịch sử khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang và khu di tích Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc tại thành phố Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp.

Quỹ Bảo trợ trẻ em trong tháng vận động trên 128 triệu đồng, bảy tháng đầu năm đã vận động trên 1,7 tỷ đồng; trong đó tiền mặt trên 1,5 tỷ đồng, hàng hóa trên 225 triệu đồng; tổ chức nghiệm thu và bàn giao 4 “mái ấm Khuyến học”; tổ chức khảo sát và hỗ trợ kinh phí xây dựng 3 “mái ấm Khuyến học” cho 3 em học sinh có hoàn cảnh khó khăn; tổ chức thực hiện “Tiếp sức đến trường” kỳ 4, 5, 6 trao tặng xe đạp và hỗ trợ kinh phí mua dụng cụ học tập cho các em học sinh nghèo hiếu học trong tỉnh.

3. Chăm sóc sức khỏe:

Trong tháng đã khám bệnh cho 451.018 lượt người, giảm 6,6%. Từ đầu năm đến nay đã khám bệnh cho 3.222.621 lượt người, giảm 2,3% so cùng kỳ, trong đó: điều trị nội trú là 139.503 lượt người, tăng 5,4%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân của các cơ sở điều trị trong tháng đạt 103,8%; trong đó: bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đạt 132,2%, bệnh viện chuyên khoa đạt 92,3%, bệnh viện tuyến huyện đạt 57,1%... Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm cũng được ngành y tế quan tâm, trong tháng ngành phối hợp kiểm tra 1.092 cơ sở sản xuất, chế biến kinh doanh thực phẩm, có 96,6% cơ sở đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và không xảy ra ngộ độc thực phẩm.

Công tác phòng chống dịch bệnh được thường xuyên quan tâm và theo dõi chặt chẽ. So với cộng dồn cùng kỳ có 13 bệnh tăng (bệnh sốt xuất huyết Dengue tăng 117,8%, bệnh tay-chân-miệng tăng 89,5%, bệnh thủy đậu tăng 37,5%, bệnh tiêu chảy tăng 18,3%...); có 9 bệnh giảm (bệnh quai bị giảm 59,6%, bệnh sốt rét giảm 33,3%, bệnh viêm gan vi rút B giảm 26,9%, bệnh viêm gan vi rút C giảm 16,7%, bệnh lao phổi giảm 11,6%...); các bệnh khác tương đương và không xảy ra cas mắc. Tính đến thời điểm báo cáo, tổng số cas nhiễm HIV là 5.293 người, tổng số cas AIDS là 1.770 người, tử vong do AIDS 956 người...

4. Giáo dục - Đào tạo:

Toàn ngành Giáo dục và Đào tạo thực hiện tốt chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đảm bảo an toàn cho học sinh, sinh viên trong dịp nghỉ hè; triển khai thực hiện Quyết định số 1767/QĐ-UBND ngày 22/6/2018 ban hành kế hoạch thời gian năm học 2018-2019 đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên của Ủy ban nhân dân tỉnh. Tổ chức tốt các kỳ thi tuyển sinh lớp 10 phổ thông năm học 2019-2020 và kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2019.

Tổ chức phúc khảo bài thi kỳ thi tuyển sinh lớp 10 phổ thông năm học 2019-2020, có tổng cộng 225 bài phúc khảo, trong đó không chuyên Văn là 124 bài, không chuyên Anh là 30 bài, không chuyên Toán là 61 bài, môn chuyên là 10 bài, kết quả có 78 bài thay đổi điểm (tăng 41, giảm 37 bài).

Tổ chức xét tuyển và công bố điểm chuẩn vào lớp 10 năm học 2019-2020 ngày 07/7/2019 đến ngày 12/7/2019, kết quả: tổng số thí sinh trúng tuyển: 16.306/18.100 thí sinh đăng ký dự thi (tỷ lệ 90,1%); trong đó: có 13.417 thí sinh trúng tuyển nguyện vọng 1, nguyện vọng 2 có 2.621 thí sinh trúng tuyển; 238 thí sinh trúng tuyển theo nguyện vọng 3 và 30 thí sinh được tuyển thẳng. Theo đó, trường có điểm chuẩn trúng tuyển cao nhất là Trường trung học phổ thông Nguyễn Đình Chiểu 38,5 điểm; điểm chuẩn thấp nhất: 10 điểm (17/38 trường).

Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2019:

Kỳ thi trung học phổ thông (THPT) quốc gia được xem là sự kiện quan trọng, được dư luận khắp cả nước quan tâm theo dõi. Năm nay, Tiền Giang có 13.378 thí sinh đăng ký dự thi. Toàn tỉnh bố trí 27 điểm thi với 586 phòng thi ở 10 huyện, thành phố và thị xã (huyện Tân Phước không có điểm thi). Về công tác tổ chức, Sở Giáo dục - Đào tạo phối hợp trường Đại học Tài nguyên - Môi trường thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ, Đại học Nam Cần Thơ, Đại học Ngoại ngữ - Tin học thành phố Hồ Chí Minh trong việc phân bố cán bộ coi thi, giám sát, thanh tra cho kỳ thi.

Kết quả kỳ thi THPT quốc gia năm 2019: tỷ lệ trên trung bình các môn như Ngữ văn (67,78%), Toán (77,14%), Ngoại ngữ (39,13%), Vật lý (64,09%), Hóa học (62,90%), Sinh học (42,92%), Lịch sử (32,89%), Địa lý (88,40%%), Giáo dục công dân (98,46%). Tổ chức xét công nhận tốt nghiệp THPT (sơ bộ) năm 2019: số thí sinh đỗ tốt nghiệp là 12.882/13.378 thí sinh dự thi (đạt tỷ lệ 96,29%) thấp hơn năm 2018 (năm 2018 là 98,87%); trong đó: có 11 học sinh miễn thi, 06 học sinh đặc cách thi tốt nghiệp; Tổ chức phúc khảo bài thi THPT quốc gia năm 2019 (bắt đầu từ 25/7/2019). Hướng dẫn thí sinh điều chỉnh nguyện vọng đăng ký xét tuyển Đại học, Cao đẳng sư phạm năm 2019; điều chỉnh thử từ 16/7 đến 18/7/2019 và điều chỉnh chính thức từ 22/7 đến 31/7/2019.

5. Văn hóa - Thể thao:

Trong tháng lập kế hoạch tổ chức lễ kỷ niệm ngày thương binh liệt sĩ 27/7; tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Lễ phát động thi đua “Cán bộ công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở” trên địa bàn tỉnh Tiền Giang; chuẩn bị các nội dung lễ kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam; tổ chức họp mặt ngày gia đình năm 2019 và dự ngày gia đình Việt Nam 28/6 tại các đơn vị cấp huyện. Trung tâm văn hóa tỉnh tham dự Hội thi tìm hiểu chủ quyền và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam tại thành phố Cần Thơ từ ngày 19-21/6/2019, kết quả đạt: 1 giải nhì (thi triển lãm ảnh); 1 giải ba (thi Đội Tuyên truyền lưu động); 2 giải khuyến khích (thi diễu hành xe tuyên truyền cổ động, phát thanh viên).

Hoạt động thư viện tỉnh phục vụ hơn 8.763 lượt bạn đọc, với 22.382 lượt sách báo được đưa ra lưu hành; Trưng bày, giới thiệu sách về 50 năm thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; kỷ niệm 94 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam; Ngày Gia đình Việt Nam 28/6; Phối hợp với Thành đoàn TP. Mỹ Tho tổ chức Chương trình “Hè vui đọc sách” năm 2019 cho các em học sinh trên địa bàn Thành phố Mỹ Tho tại Thư viện tỉnh từ ngày 10/6 đến 28/6/2019. Trong thời gian diễn ra có trên 397 em học sinh từ 16 xã, phường tham gia với hơn 1.300 lượt sách báo lưu hành.

Phong trào thể dục - thể thao trên địa bàn tỉnh luôn được duy trì và phát triển với nhiều hình thức: tổ chức thành công giải vô địch Taekwondo tỉnh Tiền Giang năm 2019 từ ngày 15 - 18/6/2019; phối hợp Liên đoàn lao động tổ chức thành công giải Cầu lông các lứa tuổi Công nhân viên chức lao động và Lực lượng vũ trang tỉnh Tiền Giang năm 2019 từ ngày 2 - 5/7/2019; đội KickBoxing tham dự giải vô địch trẻ KickBoxing toàn quốc năm 2019, từ ngày 8 - 19/6/2019 tại Gia Lai, kết quả đạt: 1 HCV, 1 HCB, 7 HCĐ; đội Võ cổ truyền tham dự giải vô địch trẻ Võ cổ truyền toàn quốc năm 2019, từ ngày 10 - 15/6/2019 tại Hậu Giang, kết quả đạt 4 HCB, 5 HCĐ; đội Vovinam tham dự giải vô địch trẻ toàn quốc 2019, từ ngày 9 - 19/6/2019 tại Kiên Giang, kết quả đạt 1 HCB, 1 HCĐ; đội cầu lông tham dự giải vô địch Cầu lông các nhóm tuổi thiếu niên toàn quốc năm 2019 từ ngày 20/6 - 1/7/2019 tại Đà Nẵng, kết quả đạt 2 HCĐ...

6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội: theo báo cáo của ngành Công an:

Tình hình an ninh được đảm bảo, tập trung thực hiện các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động phá hoại của địch, đối tượng phản động; triển khai các biện pháp bảo đảm an ninh tại các khu, cụm công nghiệp, tình hình liên quan dịch tả lợn châu Phi; bảo vệ tuyệt đối an toàn hoạt động của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến làm việc trên địa bàn tỉnh, kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh, kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2019… Kịp thời bố trí lực lượng đảm bảo an ninh, trật tự, vận động 97 lượt người dân tập trung đi khiếu kiện ở các cấp về nơi cư trú; phối hợp giải quyết 2 vụ, có 243 công nhân đình công, phản đối các chế độ tiền lương.

Tội phạm về trật tự xã hội xảy ra 79 vụ (tăng 29 vụ so với tháng trước), bị thương 1 người, tài sản thiệt hại trị giá khoảng 2 tỷ đồng. Điều tra khám phá ban đầu đạt 50,6%, bắt xử lý 41 đối tượng, thu hồi tài sản thiệt hại trị giá khoảng 297 triệu đồng.

Tội phạm và vi phạm pháp luật về ma túy: phát hiện, xử lý 14 vụ với 15 đối tượng tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy và xử lý vi phạm hành chính 170 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Vi phạm pháp luật về kinh tế, môi trường: phát hiện, xử lý 6 trường hợp vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế; 02 trường hợp vi phạm pháp luật về môi trường và 4 trường hợp khai thác cát trái phép.

7. Trật tự an toàn giao thông: (Theo báo cáo của ngành Công an).

Giao thông đường bộ: Tai nạn xảy ra 32 vụ, làm chết 25 người, bị thương 20 người; so tháng trước tai nạn tăng 11 vụ, số người chết tăng 14 người, số người bị thương tăng 8 người; so cùng kỳ tai nạn tăng 10 vụ, số người chết tăng 10 người, số người bị thương tăng 9 người. Tổng số vụ từ đầu năm đến nay 154 vụ, làm chết 108 người, bị thương 85 người; so cùng kỳ tai nạn giảm 38 vụ, làm chết giảm 13 người, bị thương giảm 35 người. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong tháng xảy ra 6.912 vụ, tăng 138 vụ so tháng trước và giảm 2.392 vụ so cùng kỳ, đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 3.471 vụ, tước giấy phép lái xe 164 vụ, phạt tiền 3.441 vụ với số tiền phạt 2.850 triệu đồng. Tổng số vụ vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ từ đầu năm đến nay xảy ra 42.097 vụ tăng 15.979 vụ so cùng kỳ, đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 20.960 vụ, tước giấy phép lái xe 1.113 vụ, phạt tiền 21.137 vụ với số tiền phạt 15.461 triệu đồng.

Giao thông đường thủy: Trong tháng không xảy ra tai nạn. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường thủy trong tháng xảy ra 1.961 vụ, tăng 134 vụ so tháng trước và giảm 5.114 vụ so cùng kỳ, đã xử lý tạm giữ giấy tờ 382 vụ, phạt tiền 1.579 vụ với số tiền phạt 581,7 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay tổng số vụ vi phạm an toàn giao thông đường thủy là 10.290 vụ giảm 3.959 vụ so cùng kỳ, đã xử lý tạm giữ giấy tờ 2.053 vụ, phạt tiền 8.240 vụ với số tiền phạt 3.248,1 triệu đồng.

8. Tình hình cháy nổ, môi trường:

Trong tháng xảy ra 2 vụ cháy tại thị xã Cai Lậy, tài sản thiệt hại ước tính khoảng 1.381 triệu đồng, nguyên nhân cháy do chập điện. Từ đầu năm đến nay xảy ra 11 vụ cháy, tài sản thiệt hại ước tính trên 6,5 tỷ đồng. Vi phạm môi trường phát hiện 5 vụ vi phạm, xử lý 5 vụ với số tiền xử phạt trên 56,6 triệu đồng, từ đầu năm đến nay phát hiện và xử lý 25 vụ với số tiền xử phạt trên 486,6 triệu đồng.

9. Thiệt hại do thiên tai:

Giữa tháng 7, tại Thị xã Gò Công và huyện Gò Công Tây đã xảy ra mưa lớn kèm theo lốc xoáy đã làm 2 người bị thương; nhiều căn nhà, phòng học, cây xanh đô thị bị đỗ, gãy, tuyến cáp, cột điện bị gãy, dây điện bị đứt... giá trị tài sản thiệt hại ước tính trên 2 tỷ đồng. Ngay sau khi lốc xoáy xảy ra, chính quyền địa phương cùng với Ban chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn chỉ đạo các ngành, đoàn thể có liên quan nhanh chóng khắc phục hậu quả, hỗ trợ kinh phí giúp cho người dân ổn định cuộc sống.

SL ước tháng 7/2019

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Tiền Giang

Tương phản
Đánh giá bài viết(0/5)

THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

VĂN BẢN ĐIỆN TỬ VĂN BẢN ĐIỆN TỬ

HỆ THỐNG VĂN BẢN HỆ THỐNG VĂN BẢN

Văn bản chỉ đạo điều hành

Công báo Tiền Giang

Góp ý dự thảo văn bản

Cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật

THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

Dịch vụ công trực tuyến

CSDL Quốc gia về TTHC

Dự án mời gọi đầu tư Dự án mời gọi đầu tư

Thông tin quy hoạch

Quy hoạch tổng thể

Quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch xây dựng

Quy hoạch khu, cụm công nghiệp

Quy hoạch ngành

Quy hoạch khai thác tài nguyên thiên nhiên

Quy hoạch thu gom, xử lý chất thải

Báo cáo thống kê

Báo cáo kinh tế - xã hội

Số liệu thống kê

Niên giám thống kê

Thông tin cần biết

Thông tin thời tiết

Giá cả thị trường

Công khai tài chính ngân sách

Thông tin thị trường xuất khẩu

Công khai hiện trạng sử dụng đất

Đầu tư, mua sắm công

Thông tin đấu giá

Thông báo tuyển dụng

Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

Địa chỉ hỗ trợ doanh nghiệp

Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo

Hội nghị Xúc tiến đầu tư năm 2018

Lễ hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2019

Tiền Giang - Dấu ấn lịch sử từ tài liệu lưu trữ

Đối thoại doanh nghiệp Đối thoại doanh nghiệp

DOANH NGHIỆP DOANH NGHIỆP

Slideshow Image 1

LIÊN KẾT LIÊN KẾT

Thống Kê Truy Cập Thống Kê Truy Cập

Đang truy cập:
-
Hôm nay:
-
Tuần hiện tại:
-
Tuần trước:
-
Tháng hiện tại:
-
Tháng trước:
-
Tổng lượt truy cập:
-