Truy cập nội dung luôn
 
                                                     English Facebook RSS Hỏi đápSơ đồ cổng

Chi tiết tin

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang tháng 4 năm 2019
02/05/2019

I. SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

1. Nông nghiệp

Cây lương thực có hạt: trong tháng gieo trồng 246 ha, thu hoạch 422 ha với sản lượng 1.524 tấn; ước tính đến cuối tháng 4/2019, gieo trồng được 100.019 ha, đạt 50,7% kế hoạch, giảm 8,2% so cùng kỳ, sản lượng thu hoạch 473.983 tấn, đạt 40% kế hoạch, giảm 8,9% so cùng kỳ.

- Cây lúa: đến cuối tháng 4/2019, gieo sạ 97.843 ha, đạt 50,8% kế hoạch, thu hoạch 64.860 ha với sản lượng 467.579 tấn, đạt 40% kế hoạch.

* Vụ Đông Xuân 2018-2019: đã thu hoạch dứt điểm 64.860 ha với năng suất sơ bộ đạt 72,1 tạ/ha, giảm 3,3% so cùng kỳ tương ứng giảm 2,5 tạ/ha do ảnh hưởng của thời tiết, nắng nóng, lúa trổ sớm và gặp sương mù; vùng lúa phía đông năng suất bình quân 69 tạ/ha, phía tây là cao nhất đạt 77,8 tạ/ha, thấp nhất là 67,3 tạ/ha. Sản lượng 467.579 tấn, giảm 8,9% so cùng kỳ tương ứng giảm 45.633 tấn, do cả diện tích gieo trồng và năng suất thu hoạch đều giảm.

* Vụ Hè Thu (gồm Xuân Hè và Hè Thu): lúa Xuân Hè xuống giống 32.983 ha, đạt 32,8% so kế hoạch sản xuất của vụ, so cùng kỳ giảm 12,3%, tập trung chủ yếu ở các huyện phía tây như sau: thị xã Cai lậy giảm 1.005 ha, huyện Tân Phước giảm 64 ha, huyện Cái Bè giảm 2.874,5 ha, huyện Cai Lậy giảm 553 ha, huyện Châu Thành giảm 137 ha. Trà lúa đang giai đoạn đứng cái - làm đồng. Theo Chi Cục trồng trọt và bảo vệ thực vật tỉnh, đến thời điểm này, lúa Xuân Hè trên địa bàn tỉnh sinh trưởng và phát triển tốt. Tuy nhiên, do thời tiết nắng nóng, nên cùng với việc chuẩn bị nguồn nước cung cấp cho cây lúa giai đoạn mạ, nông dân cần quan tâm chủ động phòng trừ một số loại sâu bệnh và dịch hại quan trọng như cỏ dại, muỗi hành, sâu cuốn lá… nhằm mục tiêu đạt năng suất theo kế hoạch đề ra.

- Cây ngô: trong tháng gieo trồng 246 ha, thu hoạch 422 ha với sản lượng 1.524 tấn. Bốn tháng gieo trồng 2.176 ha, đạt 46,7% kế hoạch, giảm 13,4% so cùng kỳ, thu hoạch 1.775 ha, năng suất quy thóc 36,1 tạ/ha với sản lượng quy thóc 6.404 tấn, đạt 37,3% kế hoạch, giảm 11,2% so cùng kỳ chủ yếu do diện tích gieo trồng giảm.

Cây rau đậu các loại: trong tháng gieo trồng 5.246 ha, thu hoạch 4.345 ha với sản lượng 87.728 tấn; bốn tháng gieo trồng 35.041 ha, đạt 60,6% kế hoạch, tăng 10,1% so cùng kỳ, thu hoạch 30.284 ha với sản lượng 608.208 tấn, đạt 53,6% kế hoạch, tăng 9,2% so cùng kỳ (trong đó: rau các loại 34.894 ha, thu hoạch 30.223 ha với sản lượng 608.025 tấn).

Chăn nuôi: ước thời điểm 01/4/2019 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 118 ngàn con, tăng 0,8%; đàn lợn 526 ngàn con, giảm 11%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 14,4 triệu con, tăng 16,1% so cùng kỳ.

Đến ngày 17/4/2019, đã có 3 tỉnh, thành công bố hết dịch tả lợn châu Phi là Hải Dương, Hưng Yên và Hà Nội nên giá thịt lợn hơi tại hầu hết các tỉnh tăng 1.000 - 5.000 đồng/kg so với cuối tháng 3 sau khi dịch tả lợn châu Phi cơ bản được khống chế. Tại Tiền Giang, giá lợn hơi dao động từ 40 - 45 ngàn đồng/kg và thời gian tới sẽ tăng cao hơn nữa sau khi dịch tả lợn châu Phi được kiểm soát, tạo điều kiện cho việc tiêu thụ thịt lợn nhanh hơn, người chăn nuôi có cơ hội tái đàn ổn định sản xuất.

2. Lâm nghiệp:

Trong tháng trồng 15,6 ngàn cây phân tán, ước đến hết tháng 4/2019, thực hiện trồng mới được 16,8 ngàn cây phân tán các loại, tăng 10,5% so với cùng kỳ. Các loại cây chủ yếu được trồng là tràm bông vàng, bạch đàn và cây khác trồng trên các bờ ao, ven sông và cặp theo tuyến kênh.

Tổng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh hiện có 1.997,1 ha (không gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng); gồm: diện tích rừng phòng hộ 1.297,6 ha và rừng sản xuất 699,5 ha; đã giao khoán quản lý bảo vệ rừng phòng hộ ven biển năm 2019 với diện tích giao khoán là 1.000 ha. Trong tháng không xảy ra cháy rừng.

3. Thủy hải sản:

Diện tích thủy sản các loại thả nuôi trong tháng 2.595 ha, 4 tháng thả nuôi 10.126 ha, đạt 63,4% kế hoạch và tăng 1,8% so cùng kỳ. Thủy sản nước ngọt nuôi 3.433 ha, giảm 1,4% so cùng kỳ do thời tiết nắng nóng kéo dài, mực nước trên nội đồng thấp kết hợp với xâm nhập mặn sâu vào nội địa nên người dân chỉ thả nuôi ở một số vùng có điều kiện thuận lợi ở các huyện phía Tây, riêng các huyện phía Đông sẽ tiến hành thả nuôi lại vào những tháng mùa mưa. Thủy sản nước mặn, lợ nuôi được 6.693 ha, tăng 3,6% so cùng kỳ, chủ yếu là tăng diện tích nuôi nghêu ở huyện Gò Công Đông.

Sản lượng thủy sản trong tháng ước tính thu hoạch 23.485 tấn, 4 tháng thu hoạch 82.205 tấn, đạt 28,5% kế hoạch, tăng 15,6% so cùng kỳ. Trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 43.166 tấn, đạt 25,7% kế hoạch, tăng 5,7% so cùng kỳ; sản lượng khai thác 39.039 tấn, trong đó khai thác biển 37.635 tấn, đạt 32,5% kế hoạch, tăng 29% so cùng kỳ do đầu tư cải hoán và đóng mới tàu có công suất khai thác lớn, thời tiết thuận lợi… cho khai thác hơn.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4/2019 giảm 1,2% so với tháng trước (do ngành sản xuất trang phục, sản xuất kim loại trong tháng giảm so với tháng trước) và tăng 11% so cùng kỳ (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,8%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,4%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 28,3%). Tính chung 4 tháng đầu năm 2019 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,2% so cùng kỳ, bao gồm: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,1%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 6,9%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 21,2%.

Chỉ số sản xuất sản phẩm trong tháng so cùng kỳ như sau:

- Có 31/42 sản phẩm tăng so cùng kỳ: bộ com lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 101,1%; máy gặt đập liên hợp tăng 100%; bia đóng chai tăng 37,5%; dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền tăng 37,2%; bia đóng lon tăng 26,8%; phân vi sinh tăng 22,6%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục tăng 21%; nước uống được tăng 20,1%; thức ăn cho gia súc tăng 9,2%; thức ăn cho thủy sản tăng 8,7%; phi lê đông lạnh tăng 8,2%...

- Có 11/42 sản phẩm giảm so cùng kỳ: túi xách giảm 23,1%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài giảm 22,6%; tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy giảm 15,6%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên giảm 8,1%; thuốc diệt cỏ, thuốc chống nảy mầm và thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng giảm 6,7%; áo khoác dài, áo khoác không tay, áo khoác có mũ, áo gió cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 0,8%...

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 4/2019 so với tháng trước tăng 0,7% và tăng 3% so cùng kỳ; trong đó: doanh nghiệp nhà nước giảm 0,8%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 3,1%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 3,1%. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 4/2019 tăng 3,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh nghiệp nhà nước giảm 2%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 2,8%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 3,6% so cùng kỳ.

* Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:

- Chỉ số tiêu thụ tháng 4/2019 so với tháng trước giảm 1,1% và tăng 9,9% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 4/2019 tăng 9,7% so cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,4%; sản xuất đồ uống tăng 31,6%; sản xuất trang phục tăng 62,9%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 0,7%; sản xuất thiết bị điện tăng 9,8%... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: dệt giảm 5,2%; sản xuất da giảm 23,3%; trong đó: sản xuất giày dép giảm 19,1%...

- Chỉ số tồn kho tháng 4/2019 so với tháng trước tăng 14% và so với cùng kỳ tăng 38,1%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 31,7%; sản xuất đồ uống tăng 65,4%; dệt tăng 137%; sản xuất da tăng 60,7%; sản xuất kim loại tăng 54,3%… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 14,8%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 9%; công nghiệp chế biến chế tạo khác giảm 7,7%...

* Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu - cụm công nghiệp:

- Khu công nghiệp: tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương quy hoạch 7 khu công nghiệp với tổng diện tích 2.083,5 ha; trong đó có 4 khu công nghiệp được thành lập và đi vào hoạt động. Trong tháng, thu hút 1 dự án với vốn đầu tư 124 triệu USD. Bốn tháng, thu hút 3 dự án (trong đó có 2 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài) tương đương so cùng kỳ, đạt 30% kế hoạch 2019, tổng vốn đầu tư đăng ký 346,9 triệu USD và 498 tỷ đồng, gấp 31,2 lần so cùng kỳ và đạt 306,9 chỉ tiêu kế hoạch năm; diện tích cho thuê thêm 41,4 ha, gấp 11,2 lần so cùng kỳ và điều chỉnh 8 dự án, trong đó có 3 dự án điều chỉnh tăng vốn với vốn đầu tư tăng thêm là 21 triệu USD, tăng diện tích thuê đất thêm 6 ha. Tổng vốn đầu tư bốn tháng đầu năm 2019 là 367,9 triệu USD và 498 tỷ đồng, bằng 32,4 lần so với cùng kỳ, diện tích cho thuê là 47,4 ha, bằng 12,1 lần so cùng kỳ.

Đến cuối tháng 4/2019, tổng số dự án tại các khu công nghiệp là 102 dự án (trong đó có 74 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài) với tổng vốn đầu tư đăng ký 2.200 triệu USD và 4.563 tỷ đồng (tương đương tổng vốn đầu tư 50.896 tỷ đồng), diện tích đất đã cho thuê 541,4/765,2 ha, đạt 70,8% diện tích đất của 4 khu công nghiệp đang hoạt động.

- Cụm công nghiệp: trên địa bàn tỉnh có 27 cụm công nghiệp được quy hoạch; trong đó có 4 cụm công nghiệp đang hoạt động. Bốn tháng không thu hút dự án đầu tư mới. Tổng số dự án đầu tư tại các cụm công nghiệp đến nay là 79 dự án (trong đó: có 7 dự án đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 4.417 tỷ đồng, diện tích thuê đất là 78,6 ha, tỷ lệ lắp đầy đạt 96,9%.

III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG

Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng 159,9 tỷ đồng, tăng 12,2% so cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm 2019 thực hiện 549,1 tỷ đồng, đạt 17% kế hoạch, tăng 11,3% so cùng kỳ.

Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 426,4 tỷ đồng, đạt 16,3% kế hoạch, tăng 11,7% so cùng kỳ, chiếm 77,7% trong tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 73,2 tỷ đồng, tăng 7,2%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 194,6 tỷ đồng, tăng 20%... Nguồn vốn tăng chủ yếu là các công trình chuyển tiếp từ các dự án Trung ương và công trình nâng cấp đô thị Mỹ Tho nên khối lượng tăng hơn so cùng kỳ.

Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 106,6 tỷ đồng, đạt 27% kế hoạch, tăng 13,6% so cùng kỳ, chiếm 19,4% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 43,2 tỷ đồng, tăng 14,1% so cùng kỳ. Đối với các ban quản lý dự án huyện, từ đầu năm đến nay thực hiện các công trình chuyển tiếp từ nguồn vốn ngân sách tỉnh phân cấp và nguồn thu từ quỹ sử dụng đất. Các địa phương tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình chuyển tiếp để sớm đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả của công trình. Đối với công trình kế hoạch năm 2019 đã được Hội đồng nhân dân các cấp thông qua danh mục công trình đang đẩy nhanh tiến độ hoàn chỉnh hồ sơ, phân bổ vốn, đấu thầu... để sớm đưa vào thực hiện đúng theo kế hoạch nhằm hạn chế tình trạng ứ động vốn phải chuyển sang năm sau.

Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 16,1 tỷ đồng, đạt 7,5% kế hoạch, giảm 10% so cùng kỳ, chiếm 2,9% tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 5,8 tỷ đồng, giảm 22,8% so cùng kỳ... Các công trình do Ban quản lý công trình xã làm chủ đầu tư thực hiện chủ yếu từ nguồn vốn phân cấp để thực hiện các công trình giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng phục vụ địa phương.

IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ

1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:

Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 5.189,4 tỷ đồng, tăng 2% so tháng trước và tăng 10,3% so cùng kỳ; trong đó: tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa 4.125,7 tỷ đồng, tăng 3,2% so tháng trước và tăng 11,6% so cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm 2019, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 20.042,1 tỷ đồng, đạt 32,3% kế hoạch, tăng 8,8% so cùng kỳ; trong đó: tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa 15.829,2 tỷ đồng, tăng 8,3% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 15.829,2 tỷ đồng, tăng 8,3%; lưu trú 46,9 tỷ đồng, tăng 4,4%; ăn uống 2.088 tỷ đồng, tăng 10,3%; du lịch lữ hành 39 tỷ đồng, tăng 10,1%; dịch vụ 2.039 tỷ đồng, tăng 11,1% so cùng kỳ.

Trong tháng 4 có ngày Lễ giỗ Tổ mùng 10/3; ngày Lễ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30/4; ngày Quốc tế lao động 1/5 trùng vào ngày cuối tuần và được nghỉ bù nên thời gian nghỉ kéo dài, thu hút được đông đảo người dân mua sắm. Để đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân trong những ngày lễ này, các siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn tỉnh đã nhập lượng lớn hàng hóa với đầy đủ chủng loại, mặt hàng. Khảo sát tại siêu thị trên các địa bàn trung tâm của tỉnh như thành phố Mỹ Tho, thị xã Cai lậy, thị xã Gò Công cho thấy, lượng hàng hóa được trưng bày dồi dào hơn, nhiều chương trình khuyến mại liên tục được giới thiệu đến khách hàng nhằm kích cầu tiêu dùng, có những mặt hàng giảm tới 30 - 40% như điện thoại di động, máy tính...

2. Xuất - Nhập khẩu:

a. Xuất khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng thực hiện 229,2 triệu USD, tăng 14,4% so tháng trước; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 56 triệu USD, tăng 7,6%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 170,3 triệu USD, tăng 17,4% so tháng trước. Bốn tháng xuất khẩu 852,5 triệu USD, đạt 28,4% kế hoạch, tăng 12% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 8,1 triệu USD, giảm 84,4%; kinh tế ngoài nhà nước 205,9 triệu USD, tăng 15,1%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 638,4 triệu USD, tăng 20,4% so cùng kỳ. Xuất khẩu chủ yếu tập trung ở ngành công nghiệp chế biến chế tạo, xuất 842,2 triệu USD, tăng 21,4% so cùng kỳ; trong đó: sản xuất chế biến thực phẩm 118,8 triệu USD, tăng 9,4%, sản xuất trang phục 136,2 triệu USD, tăng 5,5%, sản xuất da và sản phẩm có liên quan 255,8 triệu USD, tăng 4,3%, sản xuất kim loại 181,8 triệu USD, tăng 4,3%; ngành thương nghiệp xuất 10,3 triệu USD, giảm 84,8% so cùng kỳ.

Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:

- Thủy sản: ước tính tháng 4/2019 xuất 10.538 tấn với trị giá đạt 27,9 triệu USD, tăng 6,6% so tháng trước. Bốn tháng xuất 36.792 tấn, giảm 0,9% so cùng kỳ, về trị giá đạt 97,9 triệu USD, tăng 2,9% so cùng kỳ.

- Gạo: ước tính tháng 4/2019 xuất 8.000 tấn với giá trị đạt 4 triệu USD, tăng 2,3% so tháng trước. Bốn tháng xuất 20.988 tấn, giảm 83,2% so cùng kỳ, về trị giá đạt 10,3 triệu USD, giảm 84,8% so cùng kỳ.

- May mặc: ước tính tháng 4/2019 xuất 7.526 ngàn sản phẩm với giá trị xuất đạt 28 triệu USD, tăng 19,1% so tháng trước. Bốn tháng xuất 28.280 ngàn sản phẩm, tăng 27,1% so cùng kỳ, về giá trị đạt 130,2 triệu USD, tăng 1,6% so cùng kỳ.

b. Nhập khẩu:

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng 4/2019 đạt 130,7 triệu USD, tăng 0,8% so tháng trước. Bốn tháng, kim ngạch nhập khẩu 434,3 triệu USD, đạt 24,1% kế hoạch, giảm 15% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước nhập 35,3 triệu USD, tăng 2,4%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhập 399 triệu USD, giảm 16,2% so cùng kỳ.

Trị giá nhập khẩu tập trung chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến chế tạo, bốn tháng nhập 432,6 triệu USD, giảm 14,8% so cùng kỳ; trong đó: nhập khẩu cho sản xuất chế biến thực phẩm 34,6 triệu USD, tăng 29,4%, may mặc 73,1 triệu USD, giảm 44%, sản xuất da và các sản phẩm liên quan 90,4 triệu USD, giảm 36,3% lần, sản xuất kim loại 175,5 triệu USD, giảm 6,2% so cùng kỳ. Nhập khẩu hàng hóa đạt 1,7 triệu USD, giảm 49,4% so cùng kỳ.

3. Chỉ số giá:

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2019 tăng 0,4% so tháng 3/2019 (thành thị tăng 0,45%, nông thôn tăng 0,39%), so cùng kỳ năm trước tăng 2,81%, so tháng 12 năm 2018 tăng 0,88%.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 8 nhóm hàng tăng so với tháng trước: tăng cao nhất là nhóm giao thông tăng 4,94%; kế đến là nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,2%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,2%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,17%... Có 2 nhóm hàng giảm: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,16%; bưu chính viễn thông giảm 0,05%. Nhóm Giáo dục chỉ số giá ổn định.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2019 tăng so tháng 3/2019 do:

- Giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng giá 2 đợt vào ngày 02/4 và ngày 17/4/2019 (giá xăng A95 tăng thêm 2.690 đồng/lít, xăng E5 sinh học tăng 2.490 đồng/lít, dầu Diezen 0,05S tăng 1.520 đồng/lít so tháng trước) tác động chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 9,44%, làm tăng chỉ số giá tiêu dùng chung 0,42%.

- Giá gas tăng 2,32%, tương ứng tăng thêm 7.000 đồng/bình 12 kg vào ngày 01/4/2019, giá dầu hoả tăng 8,01% tương ứng tăng thêm 1.380 đồng/lít vào ngày 02/4 và ngày 17/4/2019, dẫn đến chỉ số giá nhóm gas và các loại chất đốt khác tăng 1,87%, đóng góp làm tăng chỉ số giá tiêu dùng chung 0,02%.

- Vào mùa nắng thuận lợi cho ngành xây dựng hoạt động, dẫn đến nhu cầu một số mặt hàng vật liệu xây dựng tăng như: sắt thép, cát, đá và tiền công xây... tác động nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở chính tăng 0,19% và dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,88%.

Bên cạnh đó, có một số mặt hàng chỉ số giá giảm nhưng tỷ trọng quyền số nhỏ nên tác động chưa đủ lớn đến chỉ số giá tiêu dùng chung như:

- Giá gạo giảm 0,61% do tình hình xuất khẩu gạo đang gặp khó khăn, cạnh tranh gay gắt với các nhà xuất khẩu lớn như Thái Lan, Ấn Độ và một số nước mới nổi như Campuchia, Myanmar và Pakistan.

- Giá thịt lợn giảm 1,61%. Mặc dù hiện nay tại Tiền Giang chưa phát sinh bệnh dịch tả lợn Châu Phi, nhưng do tâm lý người tiêu dùng sợ lây nhiễm bệnh nên chuyển sang dùng các loại thực phẩm khác, dẫn đến sức mua giảm, giá bán giảm bình quân 2.000 đồng/kg so tháng trước.

- Thực hiện Quyết định số 648/QĐ-BCT ngày 20/3/2019 của Bộ Công Thương, về điều chỉnh mức bán lẻ điện bình quân từ 1.702,65 đồng/kw tăng lên 1.864,44 đồng/kw (tăng 8,36%). Nhưng do quy định ngành điện lực bán điện cho người sử dụng là dùng trước trả sau (trễ 1 tháng) nên giá điện sinh hoạt tháng này chưa tác động đến chỉ số giá tiêu dùng (so với tháng trước giảm 0,82%, là do tháng 03/2019 tính tiền điện của tháng 02 là tháng có Tết nguyên đán, người dân sử dụng nhiều, giá điện bình quân tăng cao).

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng năm 2019 so cùng kỳ tăng 2,76%; một số nhóm hàng có giá tăng nhiều trong 4 tháng năm 2019 so cùng kỳ như: nhóm giáo dục tăng 5,59%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,02%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,63%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,61%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,46%...

Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 4/2019 giảm 0,68% so tháng trước; giá bình quân tháng 4/2019 là 3.647 ngàn đồng/chỉ, giảm 54 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ.

Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 4/2019 giảm 0,01% so tháng trước, giá bình quân 23.252 đồng/USD, tăng 427 đồng/USD so cùng kỳ.

4. Du lịch:

Khách du lịch đến trong tháng được 168,3 ngàn lượt khách, tăng 2% so tháng trước và tăng 4,6% so cùng kỳ; trong đó: khách du lịch quốc tế 49,4 ngàn lượt khách, tăng 2,4% so tháng trước và giảm 8,3% so cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch trong tháng 4 đạt 558 tỷ đồng, tăng 3,6% so tháng trước và tăng 10,2% so cùng kỳ.

Tính chung bốn tháng đầu năm 2019, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 661,1 ngàn lượt khách, đạt 31,5% kế hoạch, tăng 6,1% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 207,1 ngàn lượt khách, đạt 24,7% kế hoạch, giảm 0,5% so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 2.174 tỷ đồng, tăng 10,2% so cùng kỳ, trong đó: kinh tế nhà nước giảm 9,5%, kinh tế ngoài nhà nước tăng 10,5%. Phân theo nhóm ngành hàng: doanh thu dịch vụ ăn uống 2.088 tỷ đồng, chiếm tỉ trọng 96%, tăng 10,3%, dịch vụ lưu trú đạt 47 tỷ đồng, tăng 4,4%, dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch 39 tỷ đồng, tăng 10,1% so cùng kỳ.

5. Vận tải:

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 203,8 tỷ đồng, tăng 1,7% so tháng trước. Bốn tháng thực hiện 818,6 tỷ đồng, tăng 9,2% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 246,2 tỷ đồng, tăng 2,8%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 514,6 tỷ đồng, tăng 14,9%. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 460,9 tỷ đồng, tăng 8,7%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 299,9 tỷ đồng, tăng 13,8%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 57,8 tỷ đồng, giảm 7,2% so cùng kỳ.

Vận chuyển hành khách trong tháng đạt 2.614 ngàn hành khách, tăng 2,8% so tháng trước, tăng 2% so cùng kỳ; luân chuyển 103.652 ngàn hành khách.km, tăng 2,2% so tháng trước, tăng 0,4% so cùng kỳ. Bốn tháng, vận chuyển 10.845 ngàn hành khách, tăng 3,6% so cùng kỳ; luân chuyển 430.867 ngàn hành khách.km, tăng 1,7% so cùng kỳ. Trong đó: vận chuyển đường bộ 7.107 ngàn hành khách, tăng 2,5% và luân chuyển 424.075 ngàn hành khách.km, tăng 1,6% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 3.738 ngàn hành khách, tăng 5,8% và luân chuyển 6.792 ngàn hành khách.km, tăng 5,6% so cùng kỳ. Doanh thu, sản lượng vận chuyển, luân chuyển hành khách tăng là do nhu cầu đi lại của người dân tăng trong dịp lễ Giỗ tổ Hùng Vương mùng 10/3.

Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 1.466 ngàn tấn, tăng 0,9% so tháng trước, tăng 10,7% so cùng kỳ; luân chuyển 160.325 ngàn tấn.km, tăng 1,2% so tháng trước, tăng 16,6% so cùng kỳ. Bốn tháng, vận tải 5.798 ngàn tấn hàng hóa, tăng 10,8% so cùng kỳ; luân chuyển 636.408 ngàn tấn.km, tăng 14,7% so cùng kỳ. Trong đó: vận tải đường bộ 1.695 ngàn tấn, tăng 8,3% và luân chuyển 157.696 ngàn tấn.km, tăng 19,2% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 4.103 ngàn tấn, tăng 11,8% và luân chuyển 478.712 ngàn tấn.km, tăng 13,3% so cùng kỳ.

6. Bưu chính viễn thông:

Doanh thu trong tháng đạt 231 tỷ đồng, tăng 0,5% so tháng trước; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 17 tỷ đồng, tăng 3,1% và viễn thông 214 tỷ đồng, tăng 0,3% so tháng trước. Bốn tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 917 tỷ đồng, tăng 22,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 64 tỷ đồng, tăng 31,1% và viễn thông 853 tỷ đồng, tăng 21,5% so cùng kỳ.

Thuê bao điện thoại phát triển mới trong tháng giảm 1.015 thuê bao; trong đó: thuê bao cố định giảm 905 thuê bao. Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 4/2019 là 111.815 thuê bao, mật độ bình quân đạt 6,3 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao internet trong tháng phát triển mới 4.619 thuê bao, trong đó: ADSL giảm 115 thuê bao và FTTH tăng 4.734 thuê bao; thuê bao internet có trên mạng đến cuối tháng 4/2019 là 188.916 thuê bao, mật độ internet bình quân đạt 11 thuê bao/100 dân.

V. TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

1. Tài chính:

Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 971 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn 820 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 320 tỷ đồng. Bốn tháng, thu 5.577 tỷ đồng, đạt 44,1% kế hoạch, tăng 19% so cùng kỳ; trong đó: thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 3.735 tỷ đồng, đạt 40,1% dự toán và tăng 18,6% so cùng kỳ; thu nội địa 3.641 tỷ đồng, đạt 40,8% dự toán, tăng 21% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.325 tỷ đồng, đạt 48,8% dự toán, tăng 85,2% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 504 tỷ đồng, đạt 39,1% dự toán, tăng 23,9% so cùng kỳ; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết 708 tỷ đồng, đạt 42,9% dự toán, giảm 20,5% so cùng kỳ...).

Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 815 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 220 tỷ đồng. Bốn tháng, chi 3.413 tỷ đồng, đạt 30% dự toán, tăng 65,9% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 661 tỷ đồng, đạt 17,2% dự toán, tăng 4,6% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 1.909 tỷ đồng, đạt 30,5% dự toán và tăng 62,7% so cùng kỳ.

2. Ngân hàng:

Trong tháng, công tác huy động vốn tương đối thuận lợi, một số ngân hàng tăng mức lãi suất huy động kỳ hạn trên 6 tháng để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư, nguồn tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán của các thành phần kinh tế tăng so tháng trước. Ước đến cuối tháng 4/2019, nguồn vốn huy động trên địa bàn đạt 62.943 tỷ đồng, tăng 1% so với cuối tháng 3/2019, so với cùng kỳ tăng 3.965 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 6,7%.

Nhu cầu vốn tín dụng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh có xu hướng tăng, trong đó tăng mạnh nhất ở nhu cầu vốn ngắn hạn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Ước đến cuối tháng 4/2019 tổng dư nợ cho vay toàn tỉnh sẽ đạt 51.085 tỷ đồng, tăng 506 tỷ đồng so cuối tháng 3/2019, tỷ lệ tăng 1%, so với cùng kỳ tăng 6.749 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 15,2%. Trong đó: thực hiện chính sách tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP và Nghị định số 116/2018/NĐ-CP của Chính phủ, đến cuối tháng 3/2019, dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn ở tất cả các tổ chức tín dụng là 26.878 tỷ đồng, chiếm 53,1% trong tổng dư nợ cho vay.

Nợ xấu: đến ngày 31/3/2019, nợ xấu chiếm tỷ lệ 0,6% trên tổng dư nợ cho vay, với số dư là 277 tỷ đồng.

VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Tháng 4/2019, Hội đồng tư vấn tuyển chọn giao trực tiếp thực hiện 2 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, gồm: 1 cấp tỉnh - Khảo sát tình hình nhiễm vi sinh gây bệnh sinh sản trên đàn bò tại Tiền Giang, xác định tỷ lệ kháng sinh của chúng và đề xuất biện pháp phòng trị bệnh; 1 nhiệm vụ cấp cơ sở - Xây dựng Hệ thống thông minh phục vụ công tác quản lý và giảng dạy tại trường Chính trị Tiền Giang. Kiểm tra tiến độ, nghiệm thu giai đoạn nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh - Xây dựng mô hình du lịch sinh thái và tâm linh vùng Đồng Tháp Mười. Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định triển khai 1 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: Xây dựng quy trình xử lý trái mít, trái sầu riêng chín đồng loạt bằng dung dịch Ethephon, bảo đảm chất lượng và an toàn cho người sử dụng; công nhận kết quả 1 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: Khảo sát tình trạng gây ô nhiễm môi trường và phát tán các vi khuẩn đề kháng đối với kháng sinh từ chất thải của các cơ sở chăn nuôi lợn quy mô vừa và nhỏ ở Tiền Giang và đề xuất giải pháp khắc phục.

Đến tháng 4/2019, Hội đồng tư vấn tuyển chọn giao trực tiếp thực hiện 4 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh, 2 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở; kiểm tra giai đoạn, nghiệm thu kết thúc nhiệm vụ khoa học và công nghệ 3 cấp tỉnh, 2 cấp cơ sở; nghiệm thu kết thúc 2 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở; ban hành quyết định triển khai 5 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh, 3 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở; ban hành quyết định công nhận 1 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh, 2 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở.

VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động việc làm:

Trong tháng đã giới thiệu việc làm cho 125 lượt lao động; có 69 lao động có được việc làm ổn định; có 4 lao động xuất cảnh sang Nhật Bản và Hàn Quốc; có 1.069 người đăng ký thất nghiệp và giải quyết hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 563 người với tổng số tiền chi trả 8.870 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay đã giới thiệu việc làm cho 610 lượt lao động, trong đó có 335 lao động có việc làm ổn định; có 73 lao động xuất cảnh sang các nước, bao gồm: Nhật Bản 39 lao động, Đài Loan 32 lao động, Hàn Quốc 1 lao động và Ả rập 1 lao động; có 3.137 người đăng ký thất nghiệp và đã quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 2.818 người với tổng số tiền chi trả là 39.033 triệu đồng.

2. Chính sách xã hội:

Từ đầu năm đến nay đã vận động quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” được 910 triệu đồng, xây dựng 5 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 210 triệu đồng, sửa chữa 1 ngôi nhà tình nghĩa với số tiền 20 triệu đồng. Thực hiện tốt các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, các chính sách đối với gia đình người có công với cách mạng:

- Tổ chức 1 đợt, đưa 23 người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày đi viếng nhà tù Côn đảo từ ngày 25/3 đến 28/3/2019.

- Kiểm tra, phê duyệt Quyết định điều dưỡng tập trung 3 đợt, cho các huyện, thành, thị đưa người có công đi điều dưỡng tập trung tại tỉnh Phú Yên và Đà Nẵng cho 339 người có công, với số tiền trên 894,9 triệu đồng.

- Phê duyệt quyết định điều dưỡng tại gia đình cho 5 huyện (Cái Bè, Cai lậy, Thành phố Mỹ Tho, Gò Công Tây và Tân Phú Đông), cho 2.679 người, với số tiền trên 2,9 tỷ đồng.

Quỹ bảo trợ trẻ em vận động được 50 triệu đồng, từ đầu năm đến nay đã vận động trên 314,1 triệu đồng, trong đó 157 triệu đồng tiền mặt và 157,1 triệu đồng hàng hóa. Phối hợp Hội Khuyến học tỉnh tổ chức khảo sát và hỗ trợ kinh phí xây dựng 6 “Mái ấm Khuyến học” cho 6 em học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại huyện Châu Thành: 2; Cai Lậy: 1; TX.Cai Lậy: 1; Gò Công Tây: 1; Gò Công Đông: 1; tổ chức nghiệm thu và bàn giao 1 căn nhà tình nghĩa cho hộ gia đình chính sách có trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (ấp 2, xã Tam Hiệp, huyện Châu Thành), kinh phí 50 triệu đồng do Công ty Bảo việt Nhân thọ Tiền Giang hỗ trợ; hỗ trợ cho gia đình có 1 trẻ em bị đuối nước có hoàn cảnh khó khăn thuộc diện hộ nghèo (huyện Tân Phước) với số tiền 2 triệu đồng.

3. Hoạt động y tế:

Trong tháng, đã khám chữa bệnh cho 403.210 lượt người, tăng 5% so cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay đã khám bệnh cho 1.820.191 lượt người, giảm 2,6% so cùng kỳ, với số lượt người điều trị nội trú là 81.138 lượt người, tăng 5,8%. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân của các cơ sở điều trị trong tháng đạt 77,2%, trong đó: công suất sử dụng giường bệnh của các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đạt 97,1%, các bệnh viện chuyên khoa đạt 75,9%, các bệnh viện tuyến huyện chỉ đạt 36,4%... Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm cũng được ngành y tế quan tâm, trong tháng có 1.045 lượt cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm được kiểm tra; kết quả có 1.026 cơ sở đạt tiêu chuẩn, đạt 98,2%; trong tháng cũng như bốn tháng qua không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào.

So với cùng kỳ năm trước, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 14 bệnh tăng, 7 bệnh giảm, các bệnh khác tương đương và không xảy ra cas mắc. Một số bệnh tăng như: bệnh sốt xuất huyết Dengue tăng 136,6%, bệnh tay chân miệng tăng 120,6%, bệnh ho gà tăng 33,3%, bệnh tiêu chảy tăng 28,5%...; một số bệnh giảm như: bệnh sốt rét giảm 66,7%, bệnh quai bị giảm 49,1%, bệnh lao phổi giảm 17,6%, bệnh thủy đậu giảm 2%,… Để chủ động trong công tác phòng, chống dịch bệnh, ngành y tế trang bị đầy đủ các phương tiện, vật tư, hóa chất, nhân lực để phục vụ tốt công tác khám chữa bệnh. Y tế dự phòng các cấp tăng cường giám sát phát hiện sớm nhằm xử lý kịp thời, hạn chế lây lan trên diện rộng, thực hiện tốt chế độ báo cáo dịch hàng ngày thông suốt tại các tuyến.

4. Hoạt động giáo dục:

Các trường học tập trung tổ chức ôn và kiểm tra học kỳ 2 năm học 2018- 2019; tổ chức hội thi “viết đúng, viết đẹp” cấp tỉnh có 217 học sinh tiểu học tham gia, có 30 học sinh đạt giải; tham dự tập huấn kỹ thuật khảo sát chính thức chương trình đánh giá kết quả học tập của học sinh lớp 11 năm học 2018 – 2019 ở các môn Toán, Ngữ văn và Tiếng Anh tại thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 11/4 đến ngày 12/4/2019; tổ chức khảo sát cơ sở vật chất tại các điểm trường dự kiến làm điểm thi trung học phổ thông (THPT) quốc gia năm 2019; hướng dẫn kiểm tra học kỳ 2 và thi thử THPT quốc gia năm học 2018 - 2019; tổ chức kiểm tra học kỳ 2 môn Tiếng Pháp do Bộ Giáo dục và Đào tạo ra đề vào ngày 12, 13/4/2019; hướng dẫn các điểm tiếp nhận thu nhận hồ sơ đăng ký dự thi THPT quốc gia 2019; tổ chức chấm phúc khảo bài thi học sinh giỏi cấp tỉnh trung học cơ sở năm học 2018 - 2019; tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ tổ chức tuyển sinh lớp 6 trung học cơ sở và lớp 10 trung học phổ thông năm học 2018 - 2019 vào ngày 16/4/2019; tổ chức tập huấn công tác đánh giá ngoài trong kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận trường đạt chuẩn quốc gia theo bộ Thông tư mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo vào ngày 17/4/2019.

5. Hoạt động văn hóa - thể thao:

Trong tháng, ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã tập trung tổ chức các hoạt động trọng tâm như sau: tổ chức ngày quốc tế hạnh phúc 20/3; giỗ tổ Hùng vương; kỷ niệm 60 năm ngày Truyền thống bộ đội Biên phòng, 30 năm ngày Biên phòng toàn dân; Hội nghị ký kết giao ước thi đua các tỉnh Tây Nam bộ; kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam; triển khai kế hoạch tổ chức các hoạt động chào mừng các ngày lễ lớn 30/4, 01/5 và 19/5 năm 2019… Trung tâm văn hóa tỉnh diễn ra các hoạt động như: ngày sách Việt Nam; triển lãm và trưng bày hoa lan; biểu diễn các chương trình ca múa nhạc và tuyên truyền lưu động phục vụ nhân dân trong tỉnh từ ngày 16/4 đến ngày 01/5; thực hiện 12 băng-rôn tuyên truyền ngày quốc tế hạnh phúc 20/3; 02 lượt xe loa tuyên truyền “Ngày quyền của Người tiêu dùng Việt Nam” và tuyên truyền Chiến dịch giờ Trái Đất năm 2019.

Hoạt động thư viện phục vụ hơn 8.457 lượt bạn đọc, với 19.228 lượt sách báo được đưa ra lưu hành. Trong tháng, tổ chức cuộc thi “Đại sứ văn hóa đọc” năm 2019 vòng sơ khảo trên địa bàn thành phố Mỹ Tho, có 2.382 bài viết tham dự và có 16 em đạt giải cá nhân và 02 giải tập thể.

Phong trào thể dục - thể thao được tổ chức với nhiều hình thức phong phú, đa dạng như tổ chức thành công giải vô địch Cúp các Câu lạc bộ KickBoxing toàn quốc năm 2019, từ ngày 20 - 28/3/2019, tại Quảng trường Trung tâm tỉnh, kết quả đoàn Tiền Giang đạt 3 HCV, 5 HCB, 4 HCĐ, hạng nhất toàn đoàn Nữ, hạng thứ 13 toàn đoàn Nam; đội Cử tạ tham dự giải vô địch Cử tạ Thanh thiếu niên toàn quốc năm 2019, từ ngày 25/3 - 5/4/2019 tại Lâm Đồng, kết quả đạt 2 HCB, 3 HCĐ; đội Cầu lông tham dự giải Cầu lông thành phố Cần Thơ mở rộng năm 2019 “Cup Vinaphone”, từ ngày 29/3 - 31/3/2019 tại Cần Thơ, kết quả đạt 2 HCB, 2 HCĐ.

6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội: Theo báo cáo của Ngành công an:

Tình hình an ninh được đảm bảo ổn định. Trong tháng có 14 lần với 140 lượt người dân tập trung đi khiếu kiện ở các cấp.

Tội phạm về trật tự xã hội xảy ra 60 vụ, làm chết 4 người, bị thương 5 người, tài sản thiệt hại trị giá khoảng 1,3 tỷ đồng; xảy ra 4 vụ án giết người nguyên nhân do bộc phát nhất thời; cướp tài sản 4 vụ, cướp giật tài sản 5 vụ, trộm cắp tài sản 33 vụ, hủy hoại tài sản 4 vụ, cố ý gây thương tích 6 vụ, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 01 vụ, lừa đảo 01 vụ, dâm ô 01 vụ, giao cấu với trẻ em 01 vụ. Điều tra khám phá ban đầu đạt 38,3% (23/60 vụ), bắt xử lý 26 đối tượng, thu hồi tài sản thiệt hại trị giá khoảng 72 triệu đồng.

Tội phạm và vi phạm pháp luật về ma túy, kinh tế, môi trường: Phát hiện, xử lý 18 vụ với 19 đối tượng tàng trữ trái phép chất ma túy; 14 vụ với 14 đối tượng có hành vi vận chuyển hàng cấm và kinh doanh hàng hóa không hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc; triệt xóa 45 tụ điểm cờ bạc, xử lý 385 đối tượng; bắt giữ 6 đối tượng truy nã.

7. Trật tự an toàn giao thông: (Theo báo cáo của Ngành công an).

Giao thông đường bộ: tai nạn xảy ra 20 vụ, làm chết 13 người, bị thương 15 người; so tháng trước tai nạn giảm 5 vụ, số người chết giảm 6 người, số người bị thương tăng 2 người; so cùng kỳ tai nạn giảm 15 vụ, số người chết giảm 13 người, số người bị thương giảm 5 người. Tổng số vụ từ đầu năm đến nay 74 vụ, làm chết 54 người, bị thương 41 người; so cùng kỳ tai nạn giảm 49 vụ, số người chết giảm 22 người, bị thương giảm 36 người; nguyên nhân gây tai nạn do người tham gia giao thông điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vượt ẩu, không làm chủ tốc độ, không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát… Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong tháng xảy ra 7.596 vụ, tăng 1.491 vụ so tháng trước và tăng 231 vụ so cùng kỳ, đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 3.660 vụ, tước giấy phép lái xe 181 vụ, phạt tiền 3.936 vụ với số tiền phạt 2.394 triệu đồng. Tổng số vụ vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ từ đầu năm đến nay 20.915 vụ, giảm 4.680 vụ so cùng kỳ, xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 10.484 vụ, tước giấy phép lái xe 608 vụ, phạt tiền 10.431 vụ với số tiền phạt 7.411 triệu đồng.

Giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra tai nạn, tương đương so tháng trước và giảm 1 vụ so cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường thủy trong tháng xảy ra 1.771 vụ, tăng 1.051 vụ so tháng trước và tăng 692 vụ so cùng kỳ, đã lập biên bản tạm giữ giấy tờ 358 vụ và phạt tiền 1.413 vụ với số tiền phạt: 530 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số vụ vi phạm an toàn giao thông đường thủy là 4.526 vụ, tăng 11 vụ so cùng kỳ, trong đó không bằng cấp chuyên môn 13 vụ, chở quá vạch mớn nước an toàn 3.504 vụ, thiếu trang thiết bị an toàn 185 vụ và vi phạm khác 3.695 vụ, với số tiền phạt: 1.573 triệu đồng.

8. Tình hình cháy nổ, môi trường:

Trong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 1 vụ cháy tại huyện Gò Công Tây. Tài sản thiệt hại ước tính khoảng 2.500 triệu đồng. Nguyên nhân đang được điều tra làm rõ. Tổng số vụ cháy xảy ra từ đầu năm đến nay là 6 vụ cháy, tổng giá trị tài sản thiệt hại trên 4,4 tỷ đồng. Vi phạm môi trường đã tiến hành kiểm tra, phát hiện 11 vụ vi phạm, xử lý 11 vụ với tổng số tiền nộp vào ngân sách nhà nước trên 309,4 triệu đồng; từ đầu năm đến nay, tổng số vụ vi phạm môi trường được phát hiện và xử lý 17 vụ với số tiền xử phạt trên 403,4 triệu đồng. Nội dung vi phạm chủ yếu do thực hiện không đúng kế hoạch bảo vệ môi trường, gây tiếng ồn vượt quy chuẩn cho phép, khai thác cát làm vật liệu xây dựng thông thường không giấy phép, khoan thăm dò nước dưới đất không giấy phép, sử dụng đất không đúng mục đích, lấn chiếm đất; xử lý khí thải lò không đạt quy chuẩn môi trường; khai thác cát làm vật liệu xây dựng thông thường không giấy phép.

SL ước tháng 4/2019

Tương phản
Đánh giá bài viết(0/5)

THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

VĂN BẢN ĐIỆN TỬ VĂN BẢN ĐIỆN TỬ

HỆ THỐNG VĂN BẢN HỆ THỐNG VĂN BẢN

Văn bản chỉ đạo điều hành

Công báo Tiền Giang

Góp ý dự thảo văn bản

Cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật

THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

Dịch vụ công trực tuyến

CSDL Quốc gia về TTHC

Dự án mời gọi đầu tư Dự án mời gọi đầu tư

Thông tin quy hoạch

Quy hoạch tổng thể

Quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch xây dựng

Quy hoạch khu, cụm công nghiệp

Quy hoạch ngành

Quy hoạch khai thác tài nguyên thiên nhiên

Quy hoạch thu gom, xử lý chất thải

Báo cáo thống kê

Báo cáo kinh tế - xã hội

Số liệu thống kê

Niên giám thống kê

Thông tin cần biết

Thông tin thời tiết

Giá cả thị trường

Công khai tài chính ngân sách

Công khai hiện trạng sử dụng đất

Đầu tư, mua sắm công

Thông tin đấu giá

Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

Địa chỉ hỗ trợ doanh nghiệp

Hội nghị Xúc tiến đầu tư năm 2018

Lễ hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2019

Đối thoại doanh nghiệp Đối thoại doanh nghiệp

DOANH NGHIỆP DOANH NGHIỆP

Slideshow Image 1

LIÊN KẾT LIÊN KẾT

Thống kê truy cập Thống kê truy cập

Đang truy cập:
Hôm nay:
Tuần hiện tại:
Tháng hiện tại:
Tháng trước:
Tổng lượt truy cập: